Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Bài sưu tầm

Chế Linh và “văn hóa hòa hợp”
Nguyễn Văn Tuấn


Báo chí trong nước hôm nay đồng loạt đưa tin Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội rút giấy phép biểu diễn của chương trình ca nhạc “Chế Linh 30 năm tái ngộ”. Chắc nhiều người hâm mộ Chế Linh đang thất vọng với quyết định này, vì họ sẽ không có dịp nghe anh chàng ca sĩlính chê biểu diễn.
Giới nghệ sĩ Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm người gặp nhiều khó khăn nhất trên thế giới. Trước đây, khi Việt Nam chưa đổi mới hay sau đổi mới một thời gian ngắn, hầu như không có văn nghệ sĩ phía Việt Nam sang bên này, hoặc văn nghệ sĩ bên này về thăm Việt Nam. Trong bối cảnh đó, một tạp chí văn học ra đời có tên là Hợp Lưu, do Họa sĩ Khánh Trường làm chủ bút là một cái mốc đáng chú ý. Như tên gọi, chủ trương của tạp chí là hòa hợp và giao lưu, đăng những công trình sáng tác và bình luận văn học của giới văn nghệ cả trong lẫn ngoài nước. Tôi rất thích tạp chí này, và là một độc giả lâu năm, ngay từ những số đầu (và nay thì đọc ké trên mạng). Tạp chí có nhiều cây bút nổi tiếng trong và ngoài nước đóng góp nhiều bài biên khảo và sáng tác văn học có giá trị. Trong số các tác giả đó phải kể đến Đỗ Minh Tuấn, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Ngự Chiêu, Đặng Tiến, Trần Vũ, Nhật Tiến... Ấy thế mà vẫn có những người cực đoan ở ngoài này chỉ trích rằng Hợp Lưu là “tạp chí Việt Cộng”, rằng Khánh Trường là người cộng sản! Còn ở trong nước thì chắc chắn Hợp Lưu không được lưu hành. Nhưng Hợp Lưu vẫn tồn tại và vẫn chuyển tải những sáng tác có giá trị cho người thưởng lãm.
Đó là giới văn nghệ sĩ, còn giới ca sĩ Việt Nam cũng chẳng lấy làm may mắn. Một thời gian dài, Việt Nam tồn tại hai dòng tân nhạc. Dòng tân nhạc hải ngoại là dòng nhạc miền Nam trước 1975 kéo dài, và dòng nhạc trong nước. Trong khi trong nước thịnh hành “nhạc đỏ”, nhạc hùng, nhạc chiến thắng, thì ngoài này là dòng nhạc tình (có người gọi là nhạc vàng), nhạc lính, nhạc chống cộng, và nhạc than thở cuộc đời tị nạn. Trong thực tế, dòng nhạc miền Nam trước 1975 vẫn tồn tại trong công chúng cả nước cho đến nay dù rất nhiều ca khúc không được chính thức cho phép trình diễn. Thử đi một chuyến xe đò miền Tây thì sẽ biết những ca khúc do Chế Linh, Phi Nhung, Trường Vũ... ca phổ biến như thế nào. Rồi đất nước mở cửa, ca sĩ trong nước có thể ra ngoài này trình diễn, và ngược lại ca sĩ ngoài này về Việt Nam làm những show nhạc hoành tráng. Có người về hẳn Việt Nam sinh sống và mở phòng trà. Ấy vậy mà thỉnh thoảng đây đó vẫn có một số người cực đoan biểu tình, chống phá, thậm chí hành hung ca sĩ bên nhà sang đây trình diễn. Còn ca sĩ ngoài này về bên nhà trình diễn thì phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của giới chức trong nước. Nhiều ca khúc trước 1975 vẫn còn bị cấm không cho lưu hành (dù trong thực tế thì người ta ca hát đầy đường). Thế mới biết muốn đem tiếng ca và niềm vui cho mọi người mà xem ra không đơn giản chút nào.
Mấy năm gần đây, đọc tin tức và biết nhiều ca sĩ về nước trình diễn tôi cũng mừng. Những ca sĩ tôi từng ái mộ như Lệ Thu, Họa Mi đã được khán giả trong nước chào đón nghe nói nồng nhiệt. Những ca sĩ từng có thời vang danh ở miền Nam như Tuấn Ngọc, Đức Huy, Hương Lan, Thanh Tuyền, Giao Linh, Phương Dung, Khánh Hà, hoặc những ca sĩ mới “nổi” sau 1975 như Tuấn Vũ, Trường Vũ, Phi Nhung, Ý Lan, Gia Huy, Quang Lê, v.v. cũng lần lược về Việt Nam trình diễn và được khán giả ủng hộ nồng nhiệt. Nhớ hôm tôi đi giảng ở ĐH Y Hà Nội, đi trên đường thấy những pano quảng cáo show nhạc của Quang Lê một cách rầm rộ ngay trước cổng trường, tôi hỏi tài xế ở đây có người biết Quang Lê à, thì anh nói “Ối giời ơi, tất cả các DVD của Thúy Nga, Asia, Vân Sơn đều có bán đầy đường bác ạ”, nói rồi anh chỉ ngay cái quán gần trường nói “Đấy, trong đấy bác muốn mua DVD nào cũng có”. Tôi thì không phải là fan đặc biệt của những dòng nhạc của Quang Lê, Tuấn Vũ, hay Chế Linh, nhưng thú thật tôi thấy mừng khi có nhiều ca sĩ về nước làm show, và nhiều ca sĩ trong nước sang đây biểu diễn. Mừng vì tôi nghĩ cuối cùng thì sự hòa hợp, hòa giải đang thành sự thật.
Mới đây nhất là show nhạc hoành tráng của Chế Linh ở Hà Nội. Dù thích hay không thích Chế Linh thì ai cũng công nhận anh có nhiều fan trung thành. Chế Linh không chỉ là ca sĩ mà còn là người viết nhạc. Biết tiếng anh từ những năm trong thập niên 1970, nhưng mãi sau 1975 tôi mới biết anh là người Chăm, với tên thật là Chà Len (Jamlen). Năm nay anh đã 69 tuổi, và đã có một sự nghiệp ca hát 50 năm. Những bài làm nên tên tuổi của anh thì đếm không xuể, nhưng chắc phải kể đến những bài “tủ” như Thành phố buồn, Đêm buồn tỉnh lẻ, Áo em chưa mặc một lần, Đêm nguyện cầu, Lời kẻ đăng trình, Mai lỡ đôi mình xa nhau (nổi tiếng khi hát với Thanh Tuyền). Nói tóm lại, nhạc anh trình diễn là dòng nhạc mà có người nói một cách không tử tế mấy là nhạc sến. Thật vậy, có thời nhạc sến được hiểu là đồng nghĩa với nhạc Chế Linh. (Quan điểm của tôi về dòng nhạc này đã được trình bày trong một bài viết cũng đã lâu, nhưng hôm nào sẽ tìm lại và post để các bạn đọc chơi). Chế Linh hát nhiều nhạc lính và có khi người ta hiểu lầm anh là lính (nhưng trong thực tế anh chưa từng đi lính). Tuần qua, đọc báo mới biết anh đã về Việt Nam làm một show nhạc gây ấn tượng trong lòng người mộ điệu. Chương trình nhạc thấy có các ca sĩ nổi tiếng như Sơn Tuyền, Hương Lan, Thái Châu, Tuấn Ngọc, Mạnh Đình, cùng với MC Kỳ Duyên và Đức Huy. Nói như thế để thấy rằng sự hiện diện của Chế Linh và đồng nghiệp hải ngoại của anh ở Hả Nội là một biểu tượng đẹp cho sự hòa hợp hòa giải dân tộc.
Thế nhưng cái nỗi mừng đó chợt khựng lại khi hôm nay nghe tin show nhạc “Chế Linh 30 năm tái ngộ” bị rút giấy phép. Chẳng hiểu nguyên nhân gì mà show nhạc bị rút giấy phép, nhưng đọc qua báo chí thì thấy những lí do có vẻ… cỏn con quá. Chẳng hạn như một lí do được viện dẫn là Sở cấp giấy phép tên chương trình là “Liveshow ca sĩ Chế Linh”, còn nhà tổ chức thì để là”Chế Linh 30 năm tái ngộ”! Tôi nghĩ lí do này có cái gì … kì kì. Chế Linh về Việt Nam biểu diễn sau 30 năm vắng bóng, thì chương trình nhạc được quảng cáo là “Chế Linh 30 năm tái ngộ” cũng chẳng có gì sai. Thật ra, danh xưng chương trình đó còn hay hơn và thuần Việt hơn là cái tên nửa Tây nửa ta “Liveshow ca sĩ Chế Linh” (đúng ra là live show chứ). Còn lí do thứ hai Sở viện dẫn là có 11 bài không có trong danh mục được phổ biến của Bộ VH-TT-DL, nhưng không biết 11 bài gì. Mà cũng lạ, chương trình nhạc là ngày 12-11, vậy sao Sở không làm việc với nhà tổ chức rút lại 11 bài đó mà lại rút giấy phép trình diễn. Sự việc rút giấy phép này gửi một tín hiệu đỏ làm cho giới nghệ sĩ hải ngoại dè dặt hơn khi về Việt Nam ca hát, và là một cái cớ cho những người chống đối các ca sĩ về nước biểu diễn nói “Đó, chúng tôi đã nói rồi”. Nhạc sĩ Phạm Duy có lần nói rằng sau chiến tranh, âm nhạc là phương tiện hòa hợp hòa giải dân tộc tốt nhất, và tôi thấy cũng đúng. Thế nhưng ở đâu thì câu đó đúng, chứ ở nước ta thì chỉ đúng có điều kiện. Thật đáng tiếc!
Theo blog NVT

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Bài sưu tầm

Nhà thơ Chim Trắng qua đời


Nhà thơ Chim Trắng (tên thật là Hồ Văn Ba) đã qua đời lúc 19 giờ 15 ngày 28.9 tại nhà riêng, hưởng thọ 74 tuổi.

Được biết, trước khi qua đời, nhà thơ Chim Trắng đã lui về ẩn cư tại một mảnh đất nhỏ ở Bình Dương, thỉnh thoảng tham gia một số hoạt động văn nghệ trong nước và giao lưu quốc tế, cũng như lui tới thăm bạn bè, đồng nghiệp…
Những năm gần đây, tuổi già sức yếu, nhà thơ vẫn không muốn làm vướng bận đến mọi người xung quanh, cố gắng tự lo liệu bản thân. Ông từng khẳng khái đề nghị tang lễ của ông không cần phải tổ chức nghi lễ rình rang, chỉ cần bạn bè đếm “thăm” ông tại nhà riêng ở Bình Dương là ông đã có thể an lòng nơi chín suối.
Không chỉ nổi tiếng ở lĩnh vực thơ (từng đoạt giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam với tập Những ngã đường, giữ chức Phó chủ tịch Hội nhà văn TP.HCM), nhà thơ Chim Trắng còn có thâm niên làm báo (từng giữ vai trò Tổng biên tập báo Văn nghệ TP.HCM); sau khi về hưu, ông còn thử sức ở vai trò diễn viên, tham gia bộ phim truyền hình Thám tử tư (năm 2008) của đạo diễn Trần Mỹ Hà.
Gần đây nhất, năm 2008 nhà thơ này đã mạnh dạn thử nghiệm phát hành tập thơ Cỏ khóc dưới chân tôi (NXB Hội Nhà văn) trên mạng Internet và đã gặt hái thành công đáng kể.
Nhiều tác phẩm thơ của ông được dịch và phổ biến ở Hàn Quốc, trong đó có bài thơ Bông súng tím rất nổi tiếng, do chính dịch giả Kusugeong trực tiếp gặp gỡ nhà thơ tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác để chuyển ngữ.
Lễ viếng nhà thơ Chim Trắng bắt đầu từ ngày 29.9 tại nhà riêng (D18/17, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương). Lễ động quan lúc 10 giờ ngày 1.10. Sau đó, linh cữu được hỏa táng tại nghĩa trang Chánh Phú Hòa, Bến Cát, Bình Dương.
Các tác phẩm thơ của nhà thơ Chim Trắng:
Có đâu như ở miền Nam (với Lê Anh Xuân, Viễn Phương, NXB Thanh Niên, 1968)
Tên em rực rỡ vô cùng (NXB Văn nghệ giải phóng Hà Nội, 1971)
Đồng bằng tình yêu (Hội văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam,1973)
Một góc quê hương (NXB Văn nghệ giải phóng Hà Nội, 1974)
Những ngã đường (NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh , 1980)
Dấu vết nhỏ nhoi (NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1984)
Khi tình yêu lên tiếng (NXB Mũi Cà Mau, 1987)
Có một mùa thu trong (NXB Văn nghệ TP.HCM, 1990)
Thơ Chim Trắng - Cỏ gai (NXB Trẻ, 1998)
Hát lời cỏ hát (NXB Hội Nhà Văn, 1999)
Nhân có chim sẽ về (NXB Trẻ, 2006)
Cỏ khóc dưới chân tôi (NXB Hội Nhà văn, 2008)

Câu chuyện giáo dục

COI CHỪNG SAI LẦM KHI CHỌN BẠN CHO CON!

Nhà báo lão thành Nguyễn Văn Trấn (1914 – 1998) kể trong Chuyện trong vườn lý (NXB Văn nghệ TP.HCM, 1982): Mẹ bé Ngọc dạy con: “Có chơi thì lựa đứa ngoan mà chơi. Chứ cái Đông nó hư lắm, con đừng đánh bạn với nó”. Ngọc hỏi: “Con có ngoan không mẹ?”. “A, Ngọc của mẹ thì còn phải nói. Ngọc của mẹ là đứa bé rất ngoan!” Ngọc hỏi: “Vậy cái Đông nó có được lựa con mà chơi không hả mẹ?” Hẳn nghe đến đây, người mẹ sẽ ngỡ ngàng và cảm thấy khó xử. Thực tế cho thấy, chọn bạn cho con là một trong những vấn đề được cha mẹ đặc biệt quan tâm. Rõ ràng bạn bè có ảnh hưởng khá rõ nét đến tâm lý, tình cảm, tính cách của trẻ. Ở góc độ một người cha, tôi thấy đôi khi vì “quá khuôn phép”, cha mẹ có thể mắc những sai lầm trong việc chọn bạn cho con.

Sai lầm do chủ quan
Có phải chăng khi ta cố định hướng, chọn lựa cho con những người bạn mà mình cho là phù hợp nhất, tốt nhất nhưng ít hoặc không quan tâm đến nhu cầu, ý muốn của con trẻ? Cha mẹ “nhìn người” qua lăng kính của người lớn, đôi lúc không hoàn toàn hiểu thấu được nhu cầu, yêu cầu, nguyện vọng, tính cách của trẻ trong việc chọn bạn. Trên thực tế, đâu phải lúc nào cha mẹ cũng hiểu rằng con mình chơi với bạn A chỉ vì hợp về sở thích thể thao, với bạn B chỉ vì hợp với sở thích âm nhạc, với bạn C chỉ vì hợp với sở thích ăn mặc, với bạn D chỉ vì bạn hay có những lời khuyên xác đáng… Từ đó, cha mẹ có thể không hiểu thấu được “mâu thuẫn” xảy ra giữa tính cách của những người bạn này với nhau và với chính đứa con mình. Chẳng hạn, A không thích B vì A chê B chỉ nghe nhạc rap, C không ưa D vì cho rằng D hay lên mặt dạy đời…; đồng thời, cha mẹ cũng có thể không hiểu rằng bạn thân con mình cũng không thích A về sở thích ăn mặc, không thích B về sở thích ăn uống, không thích C về sở thích thể thao…
Vì vậy, cha mẹ nên để cho con chọn bạn theo tiêu chí riêng và cảm thấy thoải mái với sự lựa chọn đó.

Sai lầm do cách biệt thế hệ
Đôi khi cha mẹ nhìn nhận bạn của con theo cách riêng của mình mà không hiểu về tâm lý, lứa tuổi, trào lưu. Nhiều cha mẹ dễ dàng tỏ thái độ phật ý khi thấy con mình chơi với một bạn có tóc nhuộm vàng hoe, xăm (dán) vằn vện, nói nhiều tiếng lóng và đôi lúc còn văng tục… Người lớn thường “mặc định” rằng những người có biểu hiện đó là thiếu đứng đắn, bởi vì có một bộ phận người có biểu hiện đó quả thực thiếu đứng đắn. Nhưng ở trẻ, với sự thay đổi sở thích, sự tiếp thu các “mốt”, các “trào lưu” rất nhanh, trẻ dễ bị cuốn vào vòng xoáy đó và không thể hoặc không muốn đứng bên ngoài, cho nên với rất nhiều trường hợp, nhuộm tóc, xăm (dán) mình… chẳng qua là “cho giống bạn”, nói tiếng lóng là để thể hiện mình trong một “hội” nào đó, văng tục đôi lúc cũng là để khẳng định mình… Với thế hệ này, những điều đó chưa hẳn thể hiện bản chất tư cách của trẻ, tức là dù có tất cả những biểu hiện này thì cũng không thể cho rằng trẻ hư hỏng.
Vì vậy, sự “nhận diện” của cha mẹ e rằng có nhầm lẫn và nếu từ nhận diện này mà có sự can thiệp thô bạo e rằng sẽ mắc sai lầm.

Sai lầm do chưa đủ niềm tin ở con
Cha mẹ hay lo con mình dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu của bạn mà bỏ ra sự tác động ngược lại của con mình đối với bạn trong việc điều chỉnh những hành vi chưa tốt của bạn. Nhiều người bảo rằng “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” ở góc độ sẽ bị “mực” ảnh hưởng chứ không nghĩ đến khả năng làm “đèn” của bản thân. Như vậy thì dường như chưa có đủ lòng tin ở tính cách và năng lực của con, cũng như đánh giá thấp sự lan tỏa khả năng thuyết phục, ảnh hưởng của con mình đối với bạn. Cả hai trạng thái này đều không nên, nhất là trong lúc nhiều người kêu gọi xu hướng giáo dục đề cao sự chủ động, độc lập cho người được giáo dục.
Ngoài ra, cha mẹ hay nói đến sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực của con mà ít quan tâm, chú ý đúng mức đến sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của con mình và bạn của con mình. Chẳng hạn, một số trẻ có xu hướng bạo lực, cộc tính nhưng chỉ khi có “đối tượng” thì mới bộc lộ điều đó (như có một đứa trẻ khác, một con vật nào đó…)… Vì vậy, khi có bạn phù hợp, tính xấu này của trẻ có thể sẽ chuyển biến tích cực. Bên cạnh đó, một đứa bạn đúng là chưa ngoan nhưng qua thời gian, với sự tác động của nhiều phía, sự tự chuyển biến, đứa trẻ đó có thể sẽ dần ngoan hơn; nếu cha mẹ ngăn cản con chơi với bạn thì trẻ bị cho là không độ lượng, thiếu cảm thông…
Nói cách khác, sai lầm ở đây là cha mẹ đã “đóng khung” tính cách một con người, có lẽ không hoàn toàn đúng với những trẻ đang trong giai đoạn hoàn thiện nhân cách.
*
Tóm lại, nếu cha mẹ can thiệp quá sâu vào đời sống riêng tư của con thì có thể sẽ mắc những sai lầm cả trong việc chọn bạn cho con. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ của trẻ mà làm sự phát triển tâm sinh lý của trẻ có thể không được bình thường. Do đó, các bậc cha mẹ nên quan tâm, chú ý nhiều hơn đến các mối quan hệ của trẻ nhưng phải có sự cẩn trọng trong nhận xét, đánh giá, định hướng.

Bài đã đăng Báo Phụ nữ ngày 26-9-2011

Câu chuyện văn hóa

SANG ĐÂU NHỮNG KẺ SAY SƯA…

Có dạo, một số người đã dùng từ “Sài Gòn ăn nhậu” để chỉ tệ ăn nhậu tràn lan. Người ta có thể ăn nhậu thâu đêm suốt sáng, bất kể vui buồn. Ở nhiều quán nhậu, không kể quán sang trọng hay bình dân, khách vẫn chén tạc chén thù đến tận hừng đông. Đáng nói là một bộ phận đáng kể các “tửu khách” là những bạn trẻ, cả nam lẫn nữ. Thực tế cho thấy, người ta có rất nhiều lý do để… nhậu. Ăn mừng, xả xui, “rửa”, giải hạn, đón khách, tiễn khách, chia tay, “sương sương cho vui”, “chào phòng” (mừng sinh viên mới)…, nhiều khi chẳng vui chẳng buồn cũng uống! Tóm lại, lý do chỉ để mà gọi, còn mục đích chính vẫn là ăn nhậu!
Uống rượu là một thói quen xấu không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân mà còn là nguyên nhân gây ra những xung đột trong gia đình và trong xã hội. Bia rượu dễ dẫn đến thiếu kiềm chế, từ cãi cả nhau sẽ đi đến bạo hành. Những xích mích nhỏ khi rượu vào sẽ trở thành mấu chốt của sự tranh chấp. Khi say, khả năng kiểm soát bản thân, cả ý chí và hành vi, đều giảm đi, nên sẽ dễ xảy ra các việc sai quấy như chửi bới, đánh nhau, cưỡng hiếp… Không ít bạn gái trẻ vì “nhiệt tình” tham gia cụng ly dẫn đến say xỉn mà bị lạm dụng tình dục; cũng như có không ít bạn nam sau khi “quắc cần câu” đã đi “tăng hai, tăng ba” mà dính vào ma túy, mại dâm, mắc bệnh HIV/AIDS. Đặc biệt, bia rượu trở thành nguyên nhân hàng đầu của tai nạn giao thông tại nước, góp phần đáng kể trong việc tạo ra hàng chục ngàn vụ mỗi năm, làm chết 12.000 người và hàng chục ngàn người khác bị thương. Bia rượu cũng gây ra tình trạng thiếu văn hóa, văn minh trong cộng đồng dân cư, nhất là tại thành phố ta (như đi đứng xiên vẹo, ăn mặc xốc xếch, chửi bới, đánh nhau, xả rác, phóng uế bừa bãi....)
Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ người có sử dụng rượu bia ở nước ta chiếm 33,5% và 1/3 số người sử dụng rượu bia đã bắt đầu uống trước tuổi 20... Hậu quả của sử dụng bia rượu là 60% nguyên nhân trực tiếp gây bạo lực gia đình, trên 10% dẫn đến tai nạn giao thông, làm hơn 12.000 người tử vong mỗi năm. Ước tính phí tổn do rượu bia (bao gồm cả việc dung nạp và giải quyết hậu quả do rượu bia gây ra) chiếm từ 2-8% GDP của nhiều quốc gia. (Báo Sức khỏe và Đời sống, ngày 20-3-2009). Còn theo Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia, phân ích số vụ tai nạn giao thông trong 3 năm 2006 – 2009, cho thấy, số vụ tai nạn do sử dụng rượu bia chiếm 6,5%/năm, có tỉnh, thành tỷ lệ này chiếm 30% số vụ. Đối tượng sử dụng rượu, bia thường gây nên tai nạn là người điều khiển môtô chiếm 87,6%; người điều khiển phương tiện thô sơ 5,4%; người điều khiển ôtô 4,1%; người đi bộ 2,7%... (Theo trang thông tin phổ biến pháp luật giao thông đường bộ, Bộ Giao thông – Vận tải, ngày 8-10-2009)
Với những người trẻ, do thiếu kinh nghiệm ứng xử cộng với tính bốc đồng, nhật nhẹt say sưa còn nghiêm trọng hơn, là nguyên nhân của nhiều vụ việc đáng tiếc. Chỉ vì đôi bên có hơi men mà xảy ra vụ giết người kinh hoàng ngay trung tâm thành phố, liên quan đến 5 thanh niên, trong đó có 2 người chết, 1 người bị trọng thương và 2 người phải vướng vào vòng lao lý.
Dĩ nhiên, bên cạnh đó, dù có tác hại thường xuyên nhưng hậu quả ít thấy ngay, đó là bia rượu có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe lao động, mà thanh niên là đối tượng chính tham gia duy trì nòi giống và là lực lượng lao động chủ yếu. Đồng thời, bia rượu còn gây ra thiệt hại không nhỏ cho xã hội, không chỉ tiêu tốn trực tiếp cho việc ăn nhậu mà còn gián tiếp qua chăm sóc sức khỏe, khắc phục hậu quả tai nạn… do bia rượu gây ra. Ngoài ra, với một số người uống bia rượu không có nguồn gốc rõ ràng, không được kiểm định chất lượng, dễ dẫn đến ngộ độc nguy hiểm.
Ông ta có câu “Giàu đâu những kẻ ngủ trưa/Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày”. Bia rượu vốn nên chỉ xuất hiện vừa phải trong các lễ lạt, giải trí chứ nếu trở nên say sưa thì chẳng những không còn chút gì của sự “sang cả”, “sang trọng”, mà còn là nguyên nhân của những bi kịch của bản thân, gia đình, xã hội và tạo ra hình ảnh những người trẻ “xấu xí”. Vì vậy, các bạn trẻ khi bắt đầu cuộc vui có bia rượu, hãy nghĩ đến hậu quả của bia rượu gây ra!

Câu chuyện gia đình

CON THƠM BA TÁM CHỖ!

Mỗi buổi tối, sau giờ học bài xong, con hay “giành” lấy cái tivi để xem hoạt hình còn ba thì vẫn miệt mài bên máy tính. Đôi lúc nghĩ lại, ba không dành nhiều thời gian cho con, dù ba với con vẫn ngồi cạnh nhau, con vẫn hay hỏi ba điều gì đó khi xem tivi mà chưa hiểu, ba vẫn hay la rầy con khi con không ngoan…
Một bữa, coi tivi chán, con đến gần ba, thì thầm: “Ba ơi!”, rồi con ôm cổ ba hôn lấy hôn để vào hai má, trán, mũi, môi, cằm và cả hai tai nữa. Hôn xong, con bảo: “Con thơm ba tám chỗ!” Ba ôm lấy con, xoa đầu và hôn lại, bất chợt ba thấy mắt cay cay… Con còn đang ở trong lòng ba thì em đã chạy đến, chen vào và bảo: “Con cũng thơm ba tám chỗ”. Rồi em cũng hôn ba vào những chỗ con đã hôn.
Thành ra thói quen, vài ba ngày con lại “thơm ba tám chỗ”. Thế là ba có mười sáu chiếc hôn của hai con gái. Có hôm, hôn cằm ba xong, con và em còn xoa xoa chỗ râu chưa kịp cạo của ba. Khi ba thơm em, em lại xoa xoa vào chỗ ba vừa hôn, như muốn nói: Râu của ba làm con đau quá…
Ba nhớ hồi con chưa có em, không biết con học ở đâu mà biết “thơm ba năm chỗ”, hai má, trán, môi và cằm. Lâu lâu con lại “đổi chỗ”, thơm “chóc” vào hai tai ba làm ba phải bật cười: “Con thơm ba điếc tai quá!”. Thế là con cười nắc nẻ, lại ôm cổ ba, hôn vào hai tai nữa, xong rồi bảo: “Cho ba điếc tai luôn!” Rồi con rúc trong người ba, bé bỏng, đầy thương yêu. Con cũng choàng hai tay ôm lấy người ba mà thỏ thẻ: “Ôm ba đã quá!”…
Thấm thoát mà con bây giờ đã học lớp hai, em đã học lớp mầm, mỗi khi bồng con, ba hay cười bảo: “Hai chân gần chấm đất rồi còn gì!” thì em lại tranh: “Ẵm con nữa!”. Hai tay bồng hai con, chị em con cùng ôm cổ ba nũng nịu, không chịu rời. Lâu lâu, lúc rảnh rỗi, ba hay hỏi: “Ba mệt quá, có ai thơm ba tám chỗ không ta?” Thế là chị em con lại ào vào ôm người ba, hôn lấy hôn để. Ba chỉ hỏi thơm “tám chỗ” nhưng thế nào cũng được “mười sáu chỗ”. Ba cha con ôm nhau thắm thiết, làm mẹ phải “cà nanh”: “Ba cha con cho mẹ ra rìa à?”
“Con thơm ba tám chỗ” có lẽ đã là “thương hiệu” của con rồi. Dĩ nhiên của cả em nữa! Ai đó bảo “con gái theo cha”, thì đến lúc này, ba thấy điều đó luôn đúng! Ba tự hào vì có hai con gái thật tuyệt vời!

Câu chuyện giáo dục

CON EM TA HỌC NHƯ THẾ NÀO TRONG NHÀ TRƯỜNG?

Trong lời tựa của quyển Thế hệ ngày mai (viết năm 1952), học giả Nguyễn Hiến Lê nêu tâm trạng của những bậc cha mẹ khi lần đầu tiên đưa con trẻ đến trường: “Suốt đời ta, chỉ có những lúc ấy là chúng ta đem con của chúng ta giao cho người lạ để nhờ uốn nắn, giáo hóa. Phải có một lòng tin người mãnh liệt hoặc một lòng thờ ơ đáng tội với tổ tiên và nòi giống mới có thể đem thịt của chúng ta, máu của chúng ta giao cho người như vậy được. Và chắc có nhiều bạn, sau khi đưa con tới trường lần đầu tiên, về nhà tự hỏi: ‘Không biết việc ta làm đó phải hay trái? Người lãnh con ta có đáng tin không? Phương pháp giáo dục có đáng tin không?’”
Những câu hỏi đó lòng tin mới đưa con đến trường, nhưng lòng tin đó khó có thể nói là tuyệt đối. Chương trình dạy học, sách giáo khoa, phương tiện, đồ dùng dạy học, trường lớp, môi trường xung quanh nhà trường, kiến thức, trình độ, cách truyền đạt và tấm lòng của thầy cô… đều có thể là mối bận tâm. Từ chính sách giáo dục, triết lý giáo dục đến từng cử chỉ, lời nói của người trực tiếp đứng lớp đều đáng được quan tâm. Chẳng hạn: chương trình các bậc học hiện nay có phải là quá nhiều cho trẻ? Sách giáo khoa có chỗ còn sai và chưa thực sự phù hợp cho học sinh tất cả các vùng miền trong cả nước? Đồ dùng dạy học còn thiếu nhiều và chưa theo kịp yêu cầu giảng dạy? Trường lớp phần nhiều vẫn còn chật chội, thiếu mảng cây xanh và không có không gian cho học sinh vui chơi? Xung quanh trường học vẫn còn ít nhiều nguy hiểm, nhất là với bạo lực, tệ nạn xã hội? Cách truyền đạt của một bộ phận giáo viên chưa kích thích được khả năng tư duy và sáng tạo của trẻ? Thái độ, lời nói của một số giáo viên vẫn chưa thực sự làm gương cho trẻ?… Đặc biệt, với trẻ học mẫu giáo và học sinh cấp I, độ tuổi đang định hình nhân cách, tính cách, thầy cô giáo là người có tác động trực tiếp và rất quan trọng. Vì vậy, sự quan tâm của phụ huynh đến việc học tập của con em mình như thế nào trong nhà trường lại càng sâu sắc hơn.
Thế nhưng, có lẽ phần lớn phụ huynh khó có thể biết con em mình đã được dạy, được học như thế nào, được thầy cô quan tâm, đối xử ra sao. Bởi dù tiếp cận với sách giáo khoa nhưng thật khó để biết được sách giáo khoa đó được truyền đạt đến con em mình như thế nào, với thái độ như thế nào, được kiểm tra, đánh giá ra sao, việc xếp loại có thực chất không?… Mỗi năm 2 lần, phụ huynh được mời họp để nghe phổ biến tình hình học tập của con em nhưng thực ra không có thì giờ để giáo viên nêu được việc học của từng học sinh cho cha mẹ biết. Có khi, nhà trường tổ chức hội giảng, thực hiện một tiết dạy “đặc biệt” có sự theo dõi của phụ huynh, để xem con em mình học tập như thế nào, nhưng điều này quả thực rất hiếm và thường có sự “chuẩn bị” nhất định. Vì vậy, có thể nói, sự thông cảm và phối hợp lẫn nhau trong việc giáo dục trẻ giữa nhà trường và gia đình luôn có khoảng cách.
Để giải quyết vấn đề này, trước hết, ngành giáo dục cần công khai, minh bạch triết lý giáo dục, chương trình giảng dạy. Việc công khai này nên thông qua việc phổ biến chương trình giảng dạy hàng năm của từng khối lớp trong hội nghị phụ huynh vào đầu mỗi năm học. Nhà trường cần giải đáp, xử lý những thắc mắc, đề xuất của phụ huynh trong phạm vi của mình, vấn đề nào vượt quá khả năng thì kịp thời báo cáo lên cấp trên để có hướng dẫn cách giải quyết, cũng như tiếp thu những đóng góp, hiến kế của phụ huynh để việc dạy dỗ cho con em họ nói riêng và học sinh nói chung được tốt hơn. Hội nghị này cần được tổ chức trên tinh thần dân chủ, cầu thị, nghiêm túc lắng nghe và nghiêm túc tiếp thu.
Câu hỏi “con em ta học như thế nào trong nhà trường” lâu nay tưởng là câu hỏi đơn giản hóa ra lại rất khó trả lời cho thấu đáo. Nếu điều này không được khắc phục, e rằng chất lượng giáo dục sẽ khó được nâng chất thực sự, bởi thiếu sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa phụ huynh và nhà trường. Do đó, cách nào đó có thể hiểu rằng, trả lời được câu hỏi này cũng là giải một bài toán về chất lượng và hiệu quả giảng dạy trong nhà trường phổ thông.

Bài đã đang Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 2-10-2011

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Bài sưu tầm

Thứ trưởng Y tế bị tố khai man học vị


Báo trong nước nói Thứ trưởng Y tế Cao Minh Quang đã 'tự khai' là có bằng tiến sỹ dược trong khi chỉ có chứng chỉ nghiên cứu của một trường đại học Thụy Điển.


Ông Cao Minh Quang bị tố giác đã 'khai man' rằng trong giai đoạn 1991-1994, ông là nghiên cứu sinh của đại học Uppsala và đã bảo vệ luận án tiến sỹ dược khoa tại đại học này.

Tuy nhiên, theo báo điện tử VTC, ông chỉ đạt chứng chỉ Licentiatexamen về nghiên cứu khoa học dược phẩm tự nhiên vào ngày 26-10-1994 tại Đại học Uppsala và đây không phải văn bằng học vị.
Báo này tố giác ngoài việc "mạo nhận" học vị tiến sỹ, ông Quang còn khai man ngày sinh từ 1953 thành 1956.
Trong khi đó, báo Tuổi Trẻ đăng bài dẫn nguồn không nêu tên ở Bộ Y tế giải thích rằng "do chưa có quy định về tương đương bằng cấp giữa Thụy Điển và Việt Nam, một thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo khi đó ký xác nhận công nhận chứng chỉ kể trên tương đương học vị tiến sỹ".
Nguồn này cũng nói việc công nhận trên sau đó được một tổ công tác của Ban cán sự Đảng Bộ Y tế, đứng đầu là Vụ Tổ chức cán bộ; rồi Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương Đảng thông qua và chấp nhận.
Vay tiền thuộc cấp
Khai man học vị là diễn biến mới nhất trong một loạt cáo buộc liên quan ông Cao Minh Quang, người từng là quan chức hàng đầu trong lĩnh vực quản lý dược phẩm.
Trước đó ông Quang bị một công ty dược phẩm đâm đơn tố cáo đã ép công ty này cho vay một số tiền lớn và chỉ đạo thanh tra làm khó dễ cho họ.
Thứ trưởng Cao Minh Quang đã lên báo giải thích rằng năm 2007 ông có vay của tổng giám đốc Công ty BV Pharma 2 tỷ đồng, nhưng với tư cách bạn bè cá nhân và đã hoàn đủ cả vốn lẫn lãi vào năm 2008.
Thời gian vay mượn tiền, ông Quang đang trực tiếp lãnh đạo ngành dược.
Các tố cáo dồn dập thời gian qua gây đồn đoán về một nỗ lực gây bất lợi cho ông thứ trưởng, ngay sau khi Bộ Y tế có tân bộ trưởng.
Ông Cao Minh Quang không phải quan chức đầu tiên bị tố cáo gian dối về học vị.
Mới đây, ông Vũ Viết Ngoạn, tân chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cũng bị tố giác giả mạo khi tiểu sử có học vị tiến sỹ tài chính tại một trường đại học của Hoa Kỳ.
Tiểu sử của ông Ngoạn, được đăng trên một số báo điện tử trong nước nói ông có học vị là Tiến sỹ Tài chính Đại học La Salle (Hoa Kỳ).
Tuy nhiên, giới quan tâm tới lĩnh vực kinh tế - tài chính rộn lên thông tin nói rằng trường Đại học La Salle (Philadelphia) không có chương trình Tiến sỹ Tài chính và chỉ có một Đại học mang tên La Salle khác tại tiểu bang Louisiana, nhưng đã bị đóng cửa năm 2002 vì nhiều sai phạm, trong đó có việc bán bằng cấp giả.

Thời sự và suy nghĩ

NÊN ĐỂ LAO ĐỘNG NỮ NGHỈ THAI SẢN 6 THÁNG

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, trong đó có chính sách thai sản. Có hai phương án: tăng thời gian nghỉ lên thành 6 tháng; giữ nguyên 4 tháng như hiện nay. Dĩ nhiên việc này sẽ có những ý kiến trái ngược nhau, nhất là khi đặt trong mối quan hệ lợi ích. Chẳng hạn, với các chủ doanh nghiệp sử dụng lao động, việc nghỉ thêm 2 tháng đối với lao động nữ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và nguồn quỹ bảo hiểm xã hội của họ. Từ đó, có thể dẫn đến khuynh hướng ngại nhận lao động nữ vào làm việc hoặc có nhận nhưng kèm theo ràng buộc chưa sinh con trong một thời hạn nào đó…
Không khó nhận ra đại bộ phận ý kiến khác sẽ ủng hộ việc tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng. Đối với bản thân phụ nữ, chắc chắn thời gian này sẽ giúp việc chăm sóc trẻ tốt hơn, nhất là với các khuyến cáo nên nuôi trẻ bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau khi sinh. Từ đó, áp lực về việc phải gửi trẻ và nơi gửi trẻ khi còn quá nhỏ cũng giảm đi. Ngoài ra, việc có thêm 2 tháng nghỉ cũng giúp một số chị em có thể chọn lựa được thời gian nghỉ chủ động hơn, chẳng hạn có thể nghỉ trước khi sinh một tháng để đảm bảo sinh con an toàn…
Đối với xã hội, việc phụ nữ dành thêm 2 tháng để chăm sóc con sẽ làm giảm một số lượng nhân công và ngày công đáng kể. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp các đơn vị sử dụng lao động có tính toán phương án nhân sự hợp lý, khoa học hơn để không bị ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh. Qua đó, sẽ kích thích tăng năng suất lao động cũng như có những cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Đồng thời, điều này cũng giúp các ông chồng tăng cường trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo kinh tế gia đình khi vợ - hiện phần nhiều là người cùng gánh vác trách nhiệm nuôi sống gia đình – phải chăm con thêm 2 tháng. Ngoài ra, ở một góc độ nào đó, giảm ngày công cũng giúp tăng khả năng giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động.
Việc phụ nữ được nghỉ thai sản thêm 2 tháng dĩ nhiên sẽ có điều kiện chăm sóc con tốt hơn, giúp người chồng yên tâm làm việc. Tuy nhiên, nhìn nhận ở góc độ bình đẳng giới, điều đó cũng ít nhiều làm tăng áp lực cho người chồng nói riêng và nam giới nói chung. Bởi họ phải làm việc nhiều hơn, buộc phải có trách nhiệm hơn. Ở mặt ngược lại, chế độ thai sản mới có thể khiến phụ nữ ít có cơ hội tìm được việc làm hơn hoặc bị phân biệt đối xử khi sắp xếp, phân công công việc (có thể được bố trí công việc ít quan trọng, để khi nghỉ thai sản thì không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp, của đơn vị…), trong việc trả lương… Điều này cũng cần quan tâm và có chính sách kèm theo phù hợp để hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới. Trong đó, cần quan tâm việc nam giới cũng có thể được nghỉ và hưởng bảo hiểm khi sinh con (con thứ nhất và thứ hai) như một số nước đã thực hiện, quy định xử lý nghiêm các hành vi phân biệt giới tính trong tuyển dụng và sử dụng lao động…
Trong điều kiện xã hội của Việt Nam hiện nay, cần thiết có quy định cho phép phụ nữ được nghỉ thai sản thêm 2 tháng và được hưởng bảo hiểm xã hội, kể cả trường hợp sinh con thứ ba, thứ tư… Vì đây là sự quan tâm, chăm lo không chỉ đối với bản thân người mẹ mà chính là có chế độ chăm sóc tốt hơn cho trẻ, ngay trong những tháng đầu tiên của cuộc đời, vốn rất quan trọng đến thể chất và trí não của trẻ sau này. Trong khi dân số nước ta đang già nhanh chóng, nguy cơ thiếu lao động sẽ diễn ra trong vài thập kỷ tới, thì việc có được một nguồn nhân lực có tiền đề dinh dưỡng, thể chất tốt sẽ cung cấp nguồn lao động tốt cho nước nhà từ việc tăng thời gian nghỉ thai sản cho phụ nữ là điều đáng làm.
Được biết, từ trước năm 1983, bà mẹ chỉ được nghỉ đẻ 2 tháng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng trên 50%, tỷ lệ trẻ chết dưới 1 tuổi trên 8,1%. Vì vậy, từ năm 1985, Chính phủ đã có quyết định tăng thời gian nghỉ sau sinh lên 6 tháng. Nhưng chính sách này tồn tại không lâu, vì sức ép lao động, tiền lương và nhiều lý do khác nên đến đầu những năm 1990, Chính phủ lại giảm thời gian nghỉ sinh xuống còn 4 tháng. Điều đó cho thấy, nghỉ thai sản 6 tháng là một tiến bộ mà nước ta đã từng thực hiện. Bây giờ quy định lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế đồng thời cũng nối tiếp một chủ trương tích cực đã từng có.

Bài đã đăng báo Tuổi trẻ ngày 20-9-2011

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

Bài sưu tầm

Cười to thực sự làm giảm đau đớn


Khả năng chịu đựng đau đớn của con người tăng sau khi chúng ta cười sảng khoái, bởi hành động cười khiến cơ thể giải phóng những hóa chất có tác dụng giống thuốc giảm đau.
BBC đưa tin, các nhà khoa học của Đại học Oxford tại Anh tuyển một nhóm người tình nguyện để thực hiện một thử nghiệm. Đầu tiên các nhà nghiên cứu thử khả năng chịu đau của từng tình nguyện viên rồi chia họ thành hai nhóm. Họ cho một nhóm xem video hài trong 15 phút, còn nhóm kia xem những thứ có vẻ buồn tẻ hơn – như chương trình dạy đánh golf.
Sau đó các chuyên gia tiếp tục đo khả năng chịu đau của các tình nguyện viên. Họ nhận thấy khả năng chịu đau của những người cười sảng khoái trong lúc xem phim hài cao hơn tới 10% so với trước khi xem phim. Ngược lại, khả năng chịu đau của những người xem các chương trình “tẻ nhạt” giảm.
Giáo sư Robin Dunbar, một nhà tâm lý tiến hóa của Đại học Oxford, giải thích rằng khi con người cười lớn, sự co giãn của các cơ làm tăng lượng endorphin, nhóm hóa chất có khả năng làm giảm cảm giác đau đớn, trong cơ thể.
Dunbar nói mỗi kiểu cười mang đến tác dụng khác nhau. Cười khúc khích không tạo nên bất kỳ hiệu ứng nào về mặt thể chất. Chỉ có tiếng cười lớn và sảng khoái mới thực sự mang đến lợi ích.
Không phải loại hài kịch nào cũng làm tăng lượng endorphin trong cơ thể. Dunbar cho biết, những vở hài kịch đơn giản, mang tính tình huống có tác dụng lớn nhất, còn những vở hài kịch sâu sắc, thâm thúy chỉ dẫn đến tác dụng không đáng kể.
Mọi động vật linh trưởng đều có khả năng cười, song kiểu cười sảng khoái, bật thành tiếng chỉ tồn tại ở loài người. Dunbar cho rằng endorphin không chỉ làm giảm đau, mà còn giúp con người xây dựng mối quan hệ với đồng loại.
Nhờ khả năng xây dựng mối quan hệ với nhau mà tổ tiên của chúng ta tạo nên những cộng đồng lớn hơn các loài động vật linh trưởng khác. Chẳng hạn, khoảng hai triệu năm trước, số lượng các nhóm người có thể lên tới 100, trong khi số lượng cá thể trong các nhóm động vật linh trưởng khác hiếm khi vượt quá 50. Những cộng đồng lớn giúp con người giành ưu thế lớn nhất trong quá trình tiến hóa.


Bài sưu tầm

Âm mưu ám sát ông Võ Chí Công qua lời người cận vệ


Năm 1970, bị viên cán bộ cơ yếu phản bội, âm mưu ám sát, cố chủ tịch Võ Chí Công (khi đó là Bí thư khu ủy khu 5) đã được nhóm chiến sĩ Ban an ninh bảo vệ mưu trí bày trận phản công.

> Ký ức về cố chủ tịch Võ Chí Công/ Nguyên chủ tịch nước Võ Chí Công từ trần ở tuổi 100
Người từng tham gia phá tan vụ mưu sát này, còn nhiều lần lấy thân mình bảo vệ an toàn cho vị lãnh đạo Võ Chí Công, ngày nay vẫn còn sống. Đó là ông Huỳnh Văn Chanh, nguyên Đại đội trưởng C32, Tiểu đoàn 10, An ninh nhân dân Vũ trang khu V.
Ông Chanh bảo rằng trong suốt quãng đời hoạt động cách mạng, ông khó thể nào nhớ hết những lần bảo vệ an toàn cho Bí thư Khu ủy khu V Võ Chí Công. Thế nhưng câu chuyện phá tan âm mưu ám sát ông Võ Chí Công năm 1970 thì ông Chanh vẫn còn nhớ mãi.
Hôm ấy theo kế hoạch ban đầu, lúc 6h sáng khoảng 15 cán bộ, chiến sĩ của Ban An ninh Khu V đi theo bảo vệ Bí thư khu ủy Võ Chí Công vào Quảng Ngãi công tác. Theo nguyên tắc bí mật hoạt động cách mạng, ông Chanh đã sắp xếp lịch thời gian lùi lại 30 phút, đến 6h30 mới đưa đoàn bắt đầu xuất phát.
"Hành quân được một quãng đường ngắn tôi phát hiện Trương Hồng Thanh, cơ yếu riêng của bác Công tỏ vẻ sốt ruột, đi tới đi lui khác thường. Nghi ngờ có điều chẳng lành, tôi mật báo với bác Công quyết định quay trở lại đơn vị", ông Chanh kể.
Đoán Thanh ngầm theo địch, phản cách mạng, 3 ngày sau, ông Chanh bố trí lực lượng gồm 7 chiến sĩ phục kích nơi chôn cất tài liệu ở gần đơn vị. Đúng như dự đoán, các chiến sĩ đã bắt quả tang Thanh đang lén lút đào đất lấy tài liệu cơ yếu để chạy trốn. Qua điều tra, khai thác lời khai, ngoài Thanh còn có 7 người khác cũng cùng chung âm mưu ám sát Bí thư khu ủy khu V.
"Kết thúc điều tra, 6 chiến sĩ trong Ban An ninh Vũ trang nhân dân, tiểu đoàn 10 đã áp giải Thanh về trại giam Gia Lai - Kon Tum. Ai ngờ giữa đường đi, Thanh lợi dụng sơ hở giật súng AK bắn chết 4 người, 2 chiến sĩ còn sống sót đã khống chế áp giải anh ta về trại giam", ông Chanh trầm ngâm.
Ông Nguyễn Rã, nguyên Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 10, An ninh Nhân dân Vũ trang khu V xác nhận: "Lúc ấy nếu anh Chanh không mưu trí thay đổi mốc thời gian đi công tác cho Bí thư khu ủy thì không chỉ riêng vị Bí thư bị ám sát mà cả mấy chục chiến sĩ của Ban an ninh khu V đi theo cũng rơi vào ổ phục kích của địch, khó thể nào sống sót".
Không chỉ phá tan âm mưu ám sát ông Võ Chí Công, ông Chanh còn nhiều lần lấy thân mình che chắn, bảo vệ an toàn cho lãnh đạo. Năm 1968-1969, sau khi đi công tác từ Bắc trở về, đơn vị nghỉ chân tại vùng giáp ranh giữa Bình Trị Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng, ở lại Binh Trạm 559. Sau một ngày đi đường, Bí thư Võ Chí Công và một số lãnh đạo Khu chìm sâu trong giấc ngủ để lấy sức ngày hôm sau tiếp tục hành trình. Bất ngờ địch thả pháo sáng rồi một loạt B52 dội xuống. Sẵn sàng cho tình huống xấu nhất, từ phía trong hầm ông Chanh gập người, gồng mình lấy thân che chắn cho thủ trưởng. Loạt bom thứ hai, hầm sập, ông cảm giác trên lưng mình như có một tảng đá lớn ập xuống.
"Trong bóng tối, tôi và bác Công ra sức đào đất đá tìm lối thoát cho đến khi le lói ánh sáng nhờ đồng đội đào từ bên ngoài vào. Tôi cõng bác chạy sang hầm khác tiếp tục trú ẩn. Lần đó, đơn vị có nhiều chiến sĩ trọng thương, hàng chục cán bộ ở Binh trạm 559 hy sinh", ông Chanh kể.
Trong một lần khác, vào khoảng năm 1969, khi cùng đồng đội đi theo bảo vệ ông Võ Chí Công về Điện Bàn (Quảng Nam) công tác, địch thả bom B57 trúng hầm. Hầm bị sập nhưng một lần nữa, ông Chanh lại lấy thân mình che chắn cho Bí thư Công rồi nhanh chóng đưa vào hầm khác trú ẩn bằng võng, an toàn.
Sau những năm chiến tranh, ác liệt, gian khổ, đất nước hòa bình, thống nhất, ông Chanh được điều động về Công an Quảng Nam - Đà Nẵng cho đến ngày về hưu vào năm 1985 với quân hàm Trung tá.
Sáng 10-9 thắp nén hương cho cố chủ tịch nước Võ Chí Công, ông Chanh ngâm một đoạn thơ: Từ Quảng Nam dấn bước tiền phong, tù ngục chẳng sờn lòng/ Võ trang diệt giặc giành đất trời xanh/ Đưa Tổ quốc đến ngày toàn thắng/ Ra Hà Nội chung vai trọng trách, gian nan càng vững lái/ Tâm huyết dốc lòng lo dân giàu nước mạnh, cầm chính quyền giữ phép chí công.
"Từ lâu chúng tôi xem bác Công như vị cha già đáng kính, là tấm gương kiên trung suốt đời tận hiến cho sự nghiệp cách mạng, hết lòng vì nhân dân, vì nước. Bác mất, tôi cảm thấy mất đi một người thân thiết của đời mình", vị trung tá nói, mắt đỏ hoe.

Theo Trí Tín, vnexpress.net, ngày 11-9-2011, tại địa chỉ http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/09/am-muu-am-sat-ong-vo-chi-cong-qua-loi-nguoi-can-ve/

Bài thơ

CÂY BÀNG VUÔNG

Có những cây bàng mọc khắp nước
Tán rộng lá xanh tỏa bóng quanh năm
Dáng hiên ngang cuối bãi đầu gành
Khoe sắc đỏ mỗi mùa thay lá.

Có những cây bàng mọc nên gành đá
Đón bình minh cùng cánh hải âu
Vẫy hoàng hôn cùng biển cả một màu
Hòa tiếng sóng thành tiếng cành xào xạc.

Ôi khắp miền quê ta bát ngát
Bỗng một loài cây ghi dấu ở biển xa
Khắp Hoàng Sa đến tận Trường Sa
- Cây bàng vuông đứng hiên ngang trước biển.

Cây chở che anh bộ đội nơi tiền tuyến
Cây ngụy trang cho những ụ pháo binh
Cây tỏa bóng sân chơi giữa buổi thanh bình
Cây đón cả những loài chim về làm tổ.

Bàng vuông đã thành cây cao bóng cả
Bởi kiên trung bám đất giữa trời
Giữ từng đảo đá nổi chơi vơi
Giữ từng rặng san hô của Tổ quốc.

Bàng vuông đã trở thành anh hùng bất khuất
Bởi tự hào mọc giữa đất cha ông
Nơi tiền tiêu suốt tháng tiếng sóng dồn
Và nhóm lửa đêm cuối năm nấu bánh...
(1)

Từ đất liền đã thấy bàng vuông và phong ba
(2) lấp lánh
Bởi sáng ngời màu bất khuất, kiên trung
Xanh màu trời, màu biển của quê hương
Xanh cả màu hòa bình và hi vọng...


(1) Những dịp Tết thiếu lá dong, bộ đội Trường Sa dùng lá bàng vuông để gói bánh chưng.
(2) Cùng với phong ba, bàng vuông là một trong những loài cây đặc thù của quần đảo Trường Sa.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Tạp bút

MẸ TÔI TIẾT KIỆM

Mẹ tôi luôn tiết kiệm. Ngày trước, gia đình còn khó khăn, mỗi lần ăn dưa hấu xong, thế nào mẹ tôi cũng để lại mớ vỏ, sau đó gọt bỏ lớp vỏ xanh để làm dưa món. Mỗi bữa cơm, ăn món dưa món này với cá kho, chỉ thêm… tốn cơm…
Bây giờ đời sống đã khá hơn nhiều nhưng tính tiết kiệm của mẹ tôi vẫn vậy. Mỗi lần đi chợ về, bà giặt sạch từng túi nilông để dành đựng đồ hoặc mang đổi mấy chị bán cá dạo để lấy thêm cọng hành hay lọn ngò. Ống kem đánh răng khi gần hết, mẹ lấy kềm vắt cho bằng hết từng chút kem trong tuýp. Cái nón lá khi đã rách một chút, mẹ lấy nilông may trùm kín, dùng đội khi trời mưa mà không lo ướt. Các giỏ kẹp bằng nhựa thường hay gãy quai thì mẹ lấy kẽm kết lại rồi quấn thêm một lớp vải hoặc dây cao su, vừa xách cho êm tay vừa không lo bị gãy. Bao phân hóa học dùng xong, mẹ rọc cẩn thận để may thành những chiếc đệm dùng để phơi nông sản, cái nào rách thì tìm cái rách khác may chồng lên…
Nhiều khi mít, chuối, đu đủ… chín rụng, mẹ đều nhặt hết vào để cho chó, cho gà ăn, thay vì để hư ngoài rẫy… Hái điều, mẹ cố tìm cho kỳ hết những hạt còn lẫn dưới lá khô; phơi cà phê có vương vãi ngoài đệm, mẹ cũng nhặt từng hạt một. Nhà có ít ký thanh long chín, chục ký bơ, hơn cân ớt hiểm…, không phải là những thứ thu hoạch chính, mẹ cũng kết hợp với buổi đi chợ để bán thêm mà kiếm ít ngàn mua thức ăn…
Nhiều lúc tôi bảo: “Nhà mình giờ khá rồi, mẹ đâu cần tiết kiệm chi lắm cho cực”, mẹ cười bảo: “Mẹ hà tiện quen rồi”. Mẹ dùng chữ “hà tiện” thay cho từ “tiết kiệm” để nhắc chuyện nhiều người hay “cười” bà vì cái tính cẩn thận, tỉ mỉ, dè sẻn. Tôi cũng cố lý giải, thói quen thì đã đành, nhưng không phải ai cũng giữ được thói quen đó, nhất là khi đời sống đã khá hơn nhiều. Có lẽ cái “căn tính nông dân” vốn quen tự cung tự cấp nên luôn phải cụ bị, nếu không đến lúc nào đó cần thì không tìm thấy. Tôi lại nghĩ, bây giờ thời buổi khoáng đạt, tiền cũng dễ kiếm mà bên ngoài thứ gì cũng có, không đến đỗi khi cần lại không có như trước đây. Nếu ai cũng giữ cái suy nghĩ đó thì làm sao “kích cầu”?...
Đến những lúc kinh tế khó khăn, tôi mới thấy hết cái hay ở tính tiết kiệm của mẹ. Nông sản làm ra nhiều nhưng giá cả bấp bênh trong khi vật tư nông nghiệp, xăng dầu và các nhu yếu phẩm đều tăng vùn vụt, thành ra có khi chẳng những không tích lũy được mà còn bị lỗ. Sự tiết kiệm giúp không thâm hụt ngân sách gia đình mà nhìn rộng hơn là góp phần cùng toàn xã hội kiềm chế lạm phát.
Gần đây, để tuyên truyền cho thói quen tiết kiệm, báo chí cũng nói nhiều đến những cách tiết kiệm hiệu quả. Ngay cả các tỉ phú cũng rất tiết kiệm, không chỉ dè sẻn lúc còn nghèo khó mà đến lúc giàu có cũng giữ thói quen đó. Như vậy, tiết kiệm không chỉ để không nghèo hơn mà còn để làm giàu.
Bởi vậy, bây giờ, kinh tế đang lúc khó khăn, tôi lại càng chú tâm học kỹ những cách tiết kiệm của mẹ tôi. Có lẽ, điều quan trọng nhất là sự tiết kiệm trong ý thức, chứ không đơn giản ở những thứ vật chất cụ thể.

Bài đăng Báo Thanh niên ngày 15-9-2011

Tạp bút

SỚM MAI NGHE CHIM HÓT

1. Thành phố này ngày càng chật hẹp. Mảng xanh tự nhiên không còn nhiều; người ta phải làm những mảng xanh nhân tạo, chẳng hạn vài chậu kiểng, vài vò lan đặt trong nhà… Bởi vậy, tiếng chim cũng ngày càng thưa vắng…
Khi lần đầu đến thăm nhà tôi, ở một quận vùng ven, anh bạn tôi, vốn người miền Tây lên thành phố gần 20 năm nay, nói ngay: “Ở đây được nghe tiếng chim hót”. Tôi lóng tai nghe. Có những tiếng rít rít bên ngoài. Tôi không rõ là tiếng loài chim gì. Chắc cũng không phải những loài chim gì quý hiếm. Bởi đậu trên những đám mía, những cây cau, cây bàng, bụi cỏ… thưa thớt xen giữa những khối nhà thì chỉ có những loài chim “dễ sống”.
Từ bữa đó, mỗi sáng, tôi cố im lặng để nghe được tiếng chim hót. Tôi không hiểu được ngôn ngữ hay ý nghĩa của tiếng hót đó nhưng thấy có một niềm vui lạ. Tôi có cảm giác mình đang sống giữa lòng tự nhiên với cỏ cây, hoa lá, chim chóc, chứ không phải giữa những khối bê tông cứng nhắc, đồ sộ. Tự nhiên thấy lòng thư thái. Tự nhiên cảm thấy ngôi nhà ở “vùng xa” cũng hay lắm chứ, trừ việc phải đi làm quá xa!
2. Bữa nọ, đi sửa xe. Tay chủ tiệm chừng bốn mươi, có dáng nghệ sĩ. Trong lúc chờ đợi, tôi ngó nghiêng. Xen giữa những mớ săm lốp treo lủng lẳng là những lồng chim. Tôi hỏi, anh bảo, có cả họa mi, sơn ca, hoàng yến, sáo, chim cu… Những cái lồng cũng rất đẹp. Dường như đã quen với tiếng nổ máy ầm ầm, tiếng còi bin bin, không có con nào tỏ ra giật mình. Lúc lặng, thi thoảng có vài tiếng hót.
Hỏi han một hồi, chủ tiệm dường như gặp “tri kỷ” nên cho biết nhiều điều khá thú vị. Bận rộn với “nồi cơm” – tiệm sửa xe – là vậy, hễ rảnh một chút, anh lại chăm sóc đàn chim của mình một cách cẩn thận. Thay nước, cho ăn, vệ sinh lồng, tập hót… Anh nói: “Cho nó đỡ căng thẳng”. Một vài tháng, anh cùng nhóm người bạn đi Đồng Nai, Bình Phước, Đắc Nông… để bẫy chim về nuôi. Ít người, đi trong ngày thì vù xe máy, nhiều người, đi vài ba ngày thì thuê hẳn chiếc ôtô. Đúng là “nghề chơi cũng lắm công phu”!
Tôi đang gật gù với những chuyện về chim chóc của anh thì chợt có tiếng gà gáy le te. Nhìn vào một góc, tôi thấy một cặp gà đang tha thẩn bươi trấu trong chuồng. Tôi hỏi: “Gà tre hả anh?” Anh cười bảo: “Gà Thái đó. Một cặp gần hai triệu bạc”. Tôi còn đang ngơ ngẩn thì anh nói thêm: “Để có tiếng gáy cho vui”. Tôi gần như thốt lên: trời ơi, ông thợ sửa xe mà còn yêu chim chóc, có máu nghệ sĩ còn hơn tôi nữa!
3. Một dạo, thành phố có cà phê video, cà phê nhạc, cà phê nhạc sống… Bây giờ, thành phố có thêm cà phê hát với nhau, cà phê hòa nhạc, cà phê kịch, cà phê internet, cà phê wifi, cà phê cơm văn phòng…
Hẳn, nhiều người cũng biết có cả cà phê… chim. Đây là nơi người uống cà phê – khá bình dân – mang chim đến để trao đổi kinh nghiệm về nuôi chim, dạy chim hót, nghe chim hót và dĩ nhiên còn để… khoe chim nữa. Tôi cũng có đôi lần có cái thú ngồi nhâm nhi cà phê và nghe một dàn đồng ca chim hót. Tiếng này vừa dứt, tiếng khác cất lên, dường như bất tận. Vài chỗ, chủ quán còn có cả một “vườn chim” để cho khách thưởng thức. Ai thích có thể thương lượng với chủ quán để “rước” chú chim về nhà.
Điều đặc biệt, nhiều loại quán cà phê có thể mở cửa suốt ngày thì cà phê chim chỉ mở cửa vào sáng sớm. Sau đó, quán này có thể trở thành quán cà phê bình thường.
*
Ai cũng cần có cuộc sống tinh thần. Nghe tiếng chim hót là một dạng hưởng thụ đời sống tinh thần khá đặc biệt. Cuộc sống này đặt con người gần với tự nhiên hơn. Vì vậy, để có một cuộc sống tinh thần có ý nghĩa, con người không được bức tử tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho cá nhân mình mà phải yêu quý, trân trọng, chan hòa với tự nhiên. Đó cũng là cách để có một cuộc sống tinh thần bền vững!

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Bài sưu tầm

Diễn biến ngày đen tối nhất lịch sử nước Mỹ


Người Mỹ sẽ không bao giờ quên ngày 11/9/2001 khi nước Mỹ bị tấn công. Toàn bộ diễn biến của ngày đen tối nhất trong lịch sử cường quốc số một thế giới được cô đọng trong 22 sự kiện chính sau đây.

5h45: Nhóm không tặc bắt đầu kế hoạch tấn công của chúng. Tại sân bay quốc tế Portland, thuộc bang miền đông bắc Maine, hai trong số 19 kẻ tấn công làm thủ tục lên máy bay. Hình ảnh của Abdulaziz al-Omari và kẻ cầm đầu Mohammed Atta bị camera an ninh ghi được khi chúng đi qua cổng kiểm tra an ninh sân bay, để từ đây bay tới Boston, nơi chúng sẽ lên chuyến bay mang số hiệu 11 của hãng hàng không American Airlines. Ba tên không tặc khác đã chờ sẵn tại đó để cùng al-Omari và Atta cướp chiếc máy bay.
7h18: Tại sân bay quốc tế Dulles ở ngoại ô thủ đô Washington, hình ảnh của nhóm không tặc thứ hai gồm 5 tên được ghi nhận bởi camera an ninh, khi chúng trải qua các thủ tục kiểm tra an ninh trước khi lên chuyến bay số hiệu 77 của hãng hàng không American Airlines có đích đến là Los Angeles. Khalid al-Midhar và Nawaf al-Hazmi là những kẻ bị nhận mặt rõ nhất. Trong vài ngày trước đó, cả hai kẻ này đều nằm trong danh sách theo dõi, nhưng an ninh sân bay lại không biết điều này.
8h14: Chuyến bay số hiệu 11 của American Airlines bị tấn công. Khoảng 15 phút sau khi máy bay cất cánh, nhóm không tặc dùng dao đâm ít nhất hai thành viên phi hành đoàn và một hành khách khi tìm cách giành quyền kiểm soát chiếc phi cơ. Báo động được phát đi 5 phút sau đó bởi tiếp viên hàng không Betty Ong. Cô dùng điện thoại trên máy bay để gọi về cho hãng American Airlines, thông báo: "Buồng lái của phi công không trả lời. Ai đó đã bị đâm tại khoang thương gia, và tôi e rằng đang có một cuộc tấn công."
8h38: Kiểm soát không lưu liên lạc với giới chức quân sự sau khi nhận được một thông tin từ chuyến bay số hiệu 11, được cho là nhằm vào các hành khách: "Nếu các người hòng tạo ra bất cứ cản trở nào, các người sẽ tự gây nguy hiểm cho bản thân và chiếc máy bay này. Hãy ở nguyên vị trí." Một cuộc bắt cóc máy bay rõ ràng đang xảy ra. Hai chiến đấu cơ F-15 cất cánh 5 phút sau đó.
8h46: Chuyến bay số hiệu 175 của hãng hàng không United Airlines bị cướp. Các phi công bị giết trong khi nhóm không tặc đe dọa đánh bom khi giành quyền kiểm soát chiếc máy bay. Khoảng 12 phút sau, nó được hướng tới New York. Một hành khách gọi cho cha của mình và nói: "Con không nghĩ là các phi công đang lái máy bay. Con cho là những kẻ tấn công định lái máy bay tới Chicago, hoặc đâu đó khác, rồi lao vào một tòa nhà. Nhưng cha đừng lo, nếu điều đó xảy ra, nó sẽ rất nhanh thôi."
8h46: Chiếc máy bay số hiệu 11 của American Airlines lao vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC), tại Manhattan, New York, với tốc độ 700 km/giờ. Toàn bộ 92 hành khách và 9 thành viên phi hành đoàn có mặt trên chiếc Boeing 767 đều thiệt mạng. Rất nhiều người đang làm việc tại Tháp Bắc cũng cùng chung số phận. Những người ở phía trên tầng 92 của tòa tháp 110 tầng, nơi chiếc máy bay lao vào, bị mắc kẹt vì không thể xuống phía dưới để thoát thân. Nhiên liệu từ chiếc Boeing bốc cháy và tạo nên một quả cầu lửa khổng lồ. Sức nóng từ lửa lan nhanh xuống tận các tầng thấp nhất của tòa tháp.
8h52: Ngay sau đó, rất nhiều lính cứu hỏa được điều động tới hiện trường vụ cháy ở Tháp Bắc. Họ tìm thấy rất nhiều cửa sổ bị thổi tung và nhiều người bị bỏng. Lính cứu hỏa bắt đầu một sứ mệnh giải cứu và đi dần lên các tầng cao hơn bằng cầu thang bộ. Vào khoảng 9h00, người đứng đầu lực lượng cứu hỏa New York có mặt tại hiện trường, trong khi tổng cộng 235 lính cứu hỏa được điều động.
8h54: Chuyến bay mang số 77 của American Airlines bắt đầu đổi hành trình khi những kẻ không tặc giành được quyền kiểm soát. Đây là chiếc phi cơ thứ ba bị cướp. Hệ thống thu phát tín hiệu của chiếc Boeing 757 bị ngắt chỉ hai phút sau đó. Hành khách bắt đầu gọi cho người thân của họ bằng điện thoại đi động, để thông báo về tình hình khẩn cấp trên máy bay. Họ nói rằng những tên không tặc dùng dao để tấn công.

8h58: Lực lượng cảnh sát New York (NYPD) huy động gần 1.000 nhân viên để đối phó với thảm họa đang diễn ra. Hai máy bay trực thăng được điều động tới WTC. Các nhân viên cảnh sát có mặt tại Tháp Bắc khi chiếc Boeing 767 lao vào tòa tháp này trực tiếp giúp đỡ người dân thoát thân. Cho tới 9h00, cảnh sát yêu cầu toàn bộ dân thường tại WTC đi di tản.
9h04: Nhưng khi việc sơ tán người dân còn đang diễn ra, Tháp Nam của WTC đã bị chiếc máy bay số hiệu 175 của United Airlines đâm vào theo kịch bản tương tự cú đâm ở Tháp Bắc. Vận tốc của máy bay khi lao vào Tháp Nam là 870 km/giờ. Nó tạo ra một lỗ thủng lớn từ tầng 77 tới tầng 85 của tòa tháp. Toàn bộ 65 hành khách và phi hành đoàn thiệt mạng ngay khi đó. Một cầu thang dẫn tới các tầng phía trên vẫn còn có thể sử dụng được, và đây chính là lối đi mà nhiều người sử dụng để chạy lên tầng thượng, với hy vọng được giải cứu.

9h05: "Chiếc máy bay thứ hai đã đâm vào tòa tháp còn lại. Nước Mỹ bị tấn công", Chánh văn phòng Nhà Trắng Andrew Card nói với Tổng thống George Bush. Trong vòng 5 tới 7 phút sau đó, ông Bush vẫn nán lại phòng học ở trường tiểu học Emma E Booker, tại Saratosa, bang Florida. Ông tới thăm các trẻ em ở đây trong một giờ đọc sách.

9h28: Giới chức hàng không lúc này đã biết việc 3 chiếc máy bay chở khách bị cướp. Một nhân viên điều hành của hãng United Airlines cảnh báo chuyến bay số hiệu 93 của hãng này về an ninh buồng lái, nhưng thông điệp này tới quá muộn. Những tên không tặc đã hành động trước đó. Các nhân viên kiểm soát không lưu nghe được những tiếng động tại buồng lái của chiếc máy bay và cả tiếng la thất thanh: "Ra khỏi đây ngay, ra khỏi đây ngay, ra khỏi đây ngay."
9h30: Trong tuyên bố đầu tiên về các cuộc tấn công trên đất Mỹ, Tổng thống Bush thề sẽ "tiến hành một cuộc điều tra toàn diện để tìm ra những kẻ chịu trách nhiệm cho hành động tấn công". "Chủ nghĩa khủng bố chống lại đất nước của chúng ta sẽ không thể tồn tại", ông Bush nói. Sau đó, cựu tổng thống Mỹ nghĩ tới việc từ Florida trở về Washington.

9h37: Lo sợ nguy cơ chiếc máy bay số hiệu 77 của American Airlines đang hướng tới Nhà Trắng, Cơ quan Mật vụ Mỹ quyết định đưa Phó tổng thống Dick Cheney vào hầm trú ẩn. Sau đó, ông Cheney khuyên Tổng thống Bush quay trở về thủ đô Washington ngay lập tức.

9h38: Nhưng mục tiêu của chiếc phi cơ số hiệu 77 của American Airlines không phải là Nhà Trắng, mà lại là Lầu Năm Góc - trụ sở của Bộ Quốc phòng Mỹ. Nó đã lao vào tòa nhà này với tốc độ cao nhất, khiến toàn bộ 64 hành khách và phi hành đoàn thiệt mạng. 125 nhân viên dân sự và quân sự làm việc tại Lầu Năm Góc cũng cùng chung số phận.

9h59: Chưa đầy một giờ sau khi bị đâm phải, tòa Tháp Nam 110 tầng của WTC đổ sụp hoàn toàn chỉ trong vòng 10 giây. Không một ai có mặt trong tòa tháp khi đó còn sống sót. Những đám bụi lớn bốc cao tại phía nam của Manhattan, New York. Khoảng 600 người ở trong và quanh tòa nhà thiệt mạng. Hầu hết trong số này là những người làm việc tại tòa tháp hoặc quanh khu vực bị ảnh hưởng bởi vụ Tháp Nam đổ sụp.
10h04: Chiếc máy bay số hiệu 93 của hãng United Airlines lao xuống một cánh đồng ở Shanksville, bang Pennsylvania. Nhiều giả thiết được đưa ra về nguyên nhân dẫn tới việc này, trong đó nhiều người tin rằng nhóm không tặc bị mất quyền kiểm soát chiếc máy bay khi đụng độ với các hành khách.
Trước khi chiếc phi cơ lao xuống mặt đất, các hành khách và phi hành đoàn đã gọi cho những người thân yêu của họ, và được cho biết về những vụ tấn công ở New York. Có lẽ đây là lý do dẫn tới việc họ quyết định giành quyền kiểm soát chiếc máy bay để ngăn chặn thảm kịch tiếp theo xảy ra, nhưng phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình. Sau này, một bộ phim mang tên "Chuyến bay số 93" đã được làm, với nội dung thuật lại các diễn biến trên chiếc máy bay của hãng United Airlines vào cái ngày định mệnh ấy.

10h29: Tòa Tháp Bắc của WTC đổ sụp với tốc độ nhanh đến bất ngờ, giống như điều đã xảy ra với Tháp Nam. Khoảng 1.400 người thiệt mạng trong và xung quanh tòa nhà. Chỉ có 16 người tại cầu thang B của Tháp Bắc sống sót sau khi cả tòa kiến trúc hơn 100 tầng này sụp xuống.
12h30: Hơn 4 giờ sau khi các vụ tấn công bắt đầu xảy ra, nước Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử phải đóng không phận. Tất cả các máy bay dân sự không ở trong tình thế khẩn cấp đều bị buộc phải hạ cánh. Hàng trăm nghìn người vì thế bị kẹt lại tại khắp các sân bay trên toàn nước Mỹ.
18h54: Tổng thống George Bush về tới Washington, khoảng 9 giờ sau khi ông rời bang Florida. Ông dành phần lớn thời gian ngày hôm đó để di chuyển giữa các địa điểm an toàn khác nhau trên siêu chuyên cơ Air Force One.
20h30: Tổng thống Bush đọc bài diễn văn từ Nhà Trắng, với nội dung về ngày đen tối nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Ông nói: "Những hành động giết người hàng loạt được thực hiện nhằm mục đích khiến chúng ta sợ hãi và đẩy đất nước của chúng ta vào hỗn loạn. Nhưng chúng đã thất bại."
21h00: Sau khi đọc bài diễn văn nói trên, ông Bush tổ chức một cuộc họp với Hội đồng An ninh Quốc gia. Ông nói rõ ý định trừng phạt những tổ chức đã lên kế hoạch và thực hiện các cuộc tấn công, cũng như bất cứ quốc gia nào chứa chấp những tổ chức này.

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Bài sưu tầm

Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa


Ngày 7-2-1979, tại Tokyo, khi ngầm thông báo với báo chí một chiến dịch “trừng phạt” Việt Nam, Đặng Tiểu Bình giải thích: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô ký kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đã mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc”. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến tranh mà Đặng Tiểu Bình thực hiện 10 ngày sau không đơn giản chỉ là những gì được nói ra trong lời tuyên bố ấy.
Hiệp ước mà ông Đặng đề cập là Hiệp ước hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Xô, ký ngày 3-11-1978. Hiệp ước này được ký kết sau khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã rất trầm trọng: Trung Quốc yêu cầu Việt Nam đóng cửa 3 tổng lãnh sự quán (6-6-1978) và cắt toàn bộ viện trợ (7-1978). Ngày 29-1-1979, khi hội đàm ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình nhắc tới Campuchia, Afganistan với Tổng thống Jimmy Carter và cảnh báo “nguy cơ phản ứng dây chuyền”. J. Carter “đồng ý với Đặng cách nhìn nhận” ấy. Tuyên bố chung, hai ngày sau đó (1-3), nhấn mạnh, “Trung-Mỹ chống lại bất kỳ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gianào mưu kế bá quyền”. Đặng đã thành công khi sử dụng liên minh Việt-Xô để gieo rắc hoài nghi, khiến Mỹ làm ngơ cho Trung Quốc đánh Việt Nam, bên trong, Đặng không hề đánh giá cao “liên minh” ấy.
Trong hội nghị do Quân ủy Trung ương Trung Quốc triệu tập, bàn “chủ trương” đánh Việt Nam, không ít tướng lĩnh đã cảnh báo nguy cơ bị Liên Xô tấn công. Khi ấy, trên biên giới Trung- Xô, Liên Xô bố trí tới 50 sư đoàn chủ lực. Đặng Tiểu Bình nhận định: “Liên Xô không thể không xét tới nhiều nhân tố quốc tế nên khả năng (vì Việt Nam mà) can thiệp vào Trung Quốc là rất ít”. Trên thực tế, một tuần sau khi Trung Quốc đánh Việt Nam, không thấy Liên Xô “ra tay”, Trung Quốc đã đánh tiếp sang thị xã Lạng Sơn, và chỉ rút khi trên hướng này Quân Đoàn II xuất hiện.
Tại thời điểm Đặng tuyên bố với báo chí, 7-2-1979, quân đội Việt Nam có mặt ở Phnom Penh vừa tròn một tháng, nên “yếu tố Campuchia” có vẻ như rất dễ thuyết phục. Nhưng, theo cuốn sách 10 Năm Chiến Tranh Trung Việt của NXB Đại học Tứ Xuyên, công bố năm 1993, ngay trong Hội Nghị Quân ủy Trung ương, từ 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã quyết định đánh Việt Nam. Trong ngày 9-12-1978, Quyết định này đã được “tuyệt mật” chuyển tới tay tướng Hứa Thế Hữu (tướng Hữu cùng với Dương Đắc Chí là hai tướng chỉ huy cuộc chiến tranh 17-2). Trong khi mãi tới ngày 25-12-1978, quân đội Việt Nam mới bắt đầu mở chiến dịch đánh sang Phnompênh.
Khi Khmer Đỏ chưa nắm được chính quyền, đang “ăn nhờ, ở đậu” gần Trung ương Cục (Việt Nam), Pol Pot, Yeng Sary đã “đi lại” với Bắc Kinh. Năm 1970, Lon Non lật đổ Sihanouk, Pol Pot đã rất cay cú khi Sihanouk được đưa về Hà Nội. Pol Pot nhận ra, họ không phải là lực lượng duy nhất mà Việt Nam ủng hộ ở đất nước nhỏ bé này. Cho dù sau đó “lá bài” Sihanouk cũng được “nuôi” ở Bắc Kinh như một ông hoàng, người Trung Quốc đã khéo léo nhen nhúm hiềm khích Việt Nam cho Pol Pot. Chính vì thế mà ngay trong năm 1975, Khmer Đỏ đã phản bội Việt Nam, bắn giết ở Phú Quốc, ở Thổ Chu và từ năm 1977 đánh sang An Giang, Tây Ninh, có khi vào sâu hơn 10 km. Tuy nhiên, cho dù có bị “mất mặt” khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn bị Việt Nam đánh đổ ở Phnom Penh. Liệu, Trung Quốc có phải là một “đàn anh” trung thành với lân bang đến mức hy sinh mình như vậy?
Người Hoa và vấn đề “nạn kiều” cũng đóng một vai trò nhất định. Thật khó lý giải vì sao cuộc “cải tạo tư sản công thương nghiệp”, đụng tới hàng trăm nghìn người Hoa, lại được Việt Nam tiến hành năm 1978, khi mà mối quan hệ với Trung Quốc đang hết sức căng, nếu như không đề cập đến câu chuyện sau đây, câu chuyện mà sách vở chưa bao giờ nói đến. Bí thư Thành ủy TP.HCM vào thời điểm 1975, ông Võ Văn Kiệt, kể: “Sau ngày 30-4, ở khu vực Chợ Lớn có một chi bộ có vũ trang thuộc bộ phận hải ngoại của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chi bộ này xuất hiện bí mật từ trước 30-4 và khi đó họ đòi được công khai hoạt động”. Để một lực lượng Trung Quốc có vũ trang ở Chợ Lớn thì cũng không khác chi “đặt mồi lửa dưới đống củi”, Việt Nam buộc phải “giải giáp” họ. Bắc Kinh rất khó chịu về vụ “giải giáp” này. Nhưng, cho dù có bao nhiêu người Hoa đã phải ra đi trong năm 1978 thì “nạn kiều” vẫn là một “lá bài” mà Trung Quốc cũng chủ động “chơi” chứ không hẳn là nguyên nhân khiến cho Đặng Tiểu Bình đưa quân sang Việt Nam xâm lược.
Tác giả của 10 Năm Chiến Tranh Trung Việt còn chỉ ra một vấn đề rất có thể cũng là nguyên nhân: Năm 1978, Đặng Tiểu Bình vừa khôi phục lại quyền lãnh đạo quân đội, “Ông có ý thức nhạy bén… thông qua cuộc chiến tranh, vừa thăm dò được sự trung thành(của quân đội), vừa làm cho các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) khác nhận rõ những mặt phải cải cách quân đội”. Đại tá Hà Tám, chỉ huy trung đoàn 12 anh hùng đánh Trung Quốc tháng 2-1979, cho biết: “Mặc dù pháo theo cùng của Trung Quốc bắn khá chính xác, nhưng, bộ binh thì chủ yếu dùng ‘biển người’; chỉ huy của Trung Quốc lúc ấy ra trận mà vẫn có người che ô, quân thì chờ kèn kêu mới xông trận”. Sau ngày 17-2, Trung Quốc đã gấp rút cải cách quân đội, và họ đã “thử nghiệm” lại trên biên giới Việt Nam vào ngày 28-4-1984 bằng một chiến dịch với phương thức chiến tranh hoàn toàn mới.
Đặng Tiểu Bình nói: “Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán”. Cuộc chiến tranh được huy động khi mà Trung Quốc đang vô cùng lạc hậu sau các cuộc cách mạng “da thịt tàn nhau” không chỉ nhắm đến một mục tiêu. Bằng cách kể lể kiểu chương hồi, cuốn sách mà Trung Quốc cho công bố, 10 Năm Chiến Tranh Trung Việt, đã để lộ một ý đồ thâm sâu của Đặng, đó là vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh ở miền Nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bày tỏ thái độ khá kiên định về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo mà từ lâu Trung Quốc đã rắp tâm thôn tính.
Tháng 6-1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa. Ngày 24-9-1975, khi gặp Đặng Tiểu Bình ở Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã “yêu cầu phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đàm phán về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa”. Tháng 4-1977, trên đường đi Liên Xô ghé qua Bắc Kinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã gửi đến Trung Quốc thông điệp của Việt Nam về hai quần đảo ấy. Tuy nhiên, trước sau Trung Quốc đều một mực “yêu cầu Việt Nam trở lại lập trường trước năm 1974”. “Lập trường trước năm 1974”, theo cuốn sách 10 Năm Chiến Tranh Trung Việt là “Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958”. Cuốn sách nói là Đặng Tiểu Bình đã rất “khó chịu” với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đặng nói: “Vấn đề này không cần thiết phải đàm phán… (đó) là lãnh thổ Trung Quốc”.
Có lẽ, năm 1979, Đặng Tiểu Bình nghĩ là có thể đè bẹp ý chí của người Việt Nam trong vấn đề đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa nên đã phát động chiến tranh. Và, các yếu tố như Liên Xô, Campuchia được Đặng vận dụng tối đa để cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Điều cay đắng là, lẽ ra Đặng đã không thể cô lập Việt Nam để gây đổ máu của dân ta như thế nếu như sau 1975, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khối ASEAN ngay và đặc biệt, bình thường ngoại giao với Mỹ. Năm 1977, khi Mỹ chìa tay ra cho Việt Nam, theo Tổng thống Jimmy Carter, “vấn đề bồi thường chiến tranh đã gây khó khăn”. Rồi, trong khi Việt Nam đang loay hoay thì Đặng Tiểu Bình đã khai thác yếu tố này ngay, để thiết lập được quan hệ ngoại giao với Mỹ và đặt Việt Nam vào tình huống bị bao vây, cấm vận. Tất nhiên, “ý thức hệ” đóng một vài trò quan trọng trong quyết định “nhất biên đảo” với Liên Xô; năm ấy, báo Nhân Dân vẫn chỉ trích Đặng về chủ thuyết “mèo trắng, mèo đen” và ngày nay, chúng ta vẫn cần phải quan tâm tới bài học ấy.
Tôi công bố bài viết này vì muốn lưu ý, “người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán”, không nên đặt cuộc chiến tranh 17-2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lãm… giờ đã xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa thì vẫn đó.
Huy Đức


Bài sưu tầm

Một thiên đường của chúng ta đã mất
Nguyễn Minh Sơn


“Sáng đó (19-1-1974), chúng tôi dậy tập thể dục. Mặt trời lên rất đẹp. Bất ngờ một người nhìn thấy ngoài khơi có rất nhiều tàu bao vây quanh đảo. Mọi người vội vàng chạy vào lấy ống nhòm ra nhìn và biết đó là tàu của Trung Quốc” – ông Tạ Hồng Tân, một trong những người Việt Nam cuối cùng rời khỏi Hoàng Sa nhớ lại như vậy.


Bị Trung Quốc bắt làm tù binh


Đó là một ngày không quên trong đời ông Tân. Năm nay đã 73 tuổi, ông Tân sống bằng nghề dạy kèm tiếng Anh, tiếng Pháp tại phường An Hải Đông thành phố Đà Nẵng. Ông là người gốc sài Gòn, làm nhân viên quan trắc cho Đài khí tượng Sài Gòn, được điều ra Trung tâm khí tượng Đà Nẵng làm quan trắc viên Trạm khí tượng Hoàng Sa cuối năm 1973 cho đến ngày bị Trung Quốc bắt làm tù binh. Khi đó, trên đảo có một trung đội Địa phương quân thuộc Đại đội 157, địa phương quân Đà Nẵng của chế độ Sài Gòn và 6 nhân viên thuộc Trạm khí tượng Hoàng Sa. Ông Tân kể: “Thấy tàu chiến nhiều quá chúng tôi rất lo âu. Nhân viên vô tuyến của trạm liên lạc về Đài khí tượng Đà Nẵng cầu cứu. Kêu thì kêu vậy nhưng biết không làm gì được vì lực lượng bên đó quá đông!”. Từ sáng sớm đến hết cả ngày 19-1-1974, tàu chiến Trung Quốc án binh bất động. Lúc đó, đã xảy ra hải chiến ngoài khơi, ở các đảo xung quanh, nhưng những nhân viên khí tượng này không biết. Khoảng 5h chiều, sau một đợt pháo kích, Trung Quốc cho quân đổ bộ vào đảo bắt sống toàn bộ trung đội Địa phương quân và 6 nhân viên khí tượng, trong đó có ông Tạ Hồng Tân. “Họ đưa chúng tôi lên tàu về đảo Hải Nam ngày hôm sau. Chúng tôi được chuyển lên xe bịt bùng về giam ở đâu không biết!” – ông Tân kể. Chúng tôi xác định được nhà giam ông Tân cũng như các binh lính khác là nhà lao Thu Dung thuộc tỉnh Quảng Châu. Vào nhà giam, mọi người bị lấy lời khai nhưng được đối xử tử tế.


Khoảng gần 3 tuần sau, ông Tân nói có một cán bộ Trung Quốc tới trại, đem theo người phiên dịch nói cho chúng tôi biết: “Hoàng Sa là đảo của Trung Quốc nhưng Việt Nam chiếm làm đài Khí tượng. Nay Trung Quốc lấy lại và các anh sẽ được trả tự do trong vài ngày tới”. Khoảng gần 1 tuần sau, ông Tân cùng toàn bộ tù binh bị Trung Quốc bắt đưa qua Hồng Kông. Chính quyền Sài Gòn điều một chiếc máy bay C130 sang Hồng Kông nhận trao trả tù binh. Phần lớn số tù binh sau đó về lại nơi làm việc ở Đà Nẵng. Tiễn chúng tôi ra về tới cửa, ông Tân còn nheo nheo mắt hỏi: “Không biết bây giờ tên của tôi có còn ngoài Hoàng Sa không?”. Một câu hỏi thật khó trả lời. Tất cả những binh sĩ chế độ Sài Gòn và nhân viên khí tượng khi đến Hoàng Sa, những giờ rảnh rỗi họ ra những tảng đá ven biển khắc họ tên và địa chỉ mình lên đó làm kỷ niệm. Khi ông Tân ra thì đã thấy lớp lâu lớp mới tên người Việt Nam trên đá, ở những vị trí tuyệt đẹp.


Thiên đường đã mất


Một trong những người từng làm việc lâu đời ở Hoàng Sa hiện còn sống tại Đà Nẵng là ông Nguyễn Tấn Phát, nhân viên quan trắc Đài khí tượng Sài Gòn. Đầu năm 1958, ông Phát được điều theo dạng luôn phiên ra Đà Nẵng rồi đi Hoàng Sa. Đó là một thời kỳ đẹp đẽ nhất trong đời của một chàng trai Sài Gòn. Ông nói: “Mỗi nhân viên chỉ đi Hoàng Sa luân phiên 3 tháng, mỗi lần đi có 6 người gồm 4 quan trắc viên, 1 nhân viên vô tuyến và 1 nhân viên phục vụ lo thổi bóng hơi quan trắc cao không đo gió kiêm hậu cần. Tôi lúc đó mới 23 tuổi, chưa lập gia đình, thấy cảnh sắc thần tiên nên mê và xin ở lại luôn cả nửa năm”. Nửa năm sống trên đảo trong ký ức của ông Phát bây giờ là nửa năm làm Từ Thức!”. Công việc quan trắc cũng khá nhẹ nhàng, chủ yếu vài thời điểm trong ngày. Thời gian còn lại ông cùng những đồng nghiệp mình ngao du khắp đảo Hoàng Sa. Lâu lâu, ông kể là đi theo xuồng máy của đơn vị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn đi thăm các đảo có chim sinh sống. Đó là những bãi cát vàng rực trong ánh chiều tà. Chân chúng tôi len lỏi giữa những ổ trứng chim. Chim nhiều vô kể, chúng không hề sợ hãi khi thấy người tới gần. Bình minh trên quần đảo Hoàng Sa là thời khắc huy hoàng nhất trong ngày. “Chúng tôi thấy mặt trời đỏ rực, to và rất gần. Nắng lên một chút, nước biển ven bờ xanh một màu ngọc bích đẹp lạ lùng, xa xa hơn một chút nữa màu xanh dương rồi tới xanh lục. Chiều chiều rảnh rỗi chúng tôi bơi ra xa lặn xuống xem những rạn san hô với cá đủ màu sắc…” – ông Phát kể như vậy.


Đặc biệt nhất tại Hoàng Sa là cá. Cá nhiều vô kể, nhất là cá mú. Lính đảo cùng các nhân viên khí tượng sống nhờ nguồn thực phẩm khá dồi dào tại Hoàng Sa. Cá, ốc, mực, bạch tuộc, chim… “Chỉ cần quăng câu chừng vài phút là được gần cả chục con cá mú, cá khế, cá xanh xương… Con nào con đó nặng trên 5 – 7 ký” – đó là ký ức của ông Võ Như Dân, người ở Hoàng Sa nhiều nhất nay còn sống. Ông Dân làm nhân viên hậu cần cho Trạm khí tượng Hoàng Sa từ năm 1956. Đội hậu cần thời đó chỉ có 3 người luân phiên nhau ra Hoàng Sa. Chính vì vậy, cho đến ngày Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc năm 1974, ông Dân có 14 chuyến ra Hoàng Sa, mỗi chuyến 3 tháng, tổng cộng là 3 năm rưỡi sinh sống trên đảo. Cảnh sắc quen thuộc thân thương quá đỗi đến mức ông bảo: “Hôm qua tôi xuống Sở Nội vụ TP Đà Nẵng, nơi có kho tư liệu và hành ảnh về Hoàng Sa, tối về tôi nằm mường tượng nó ở trước mặt tôi. Cả phần đời tôi đã ở đó…”. Nhiệm vụ là hậu cần nên suốt ngày ông Dân đi câu cá phục vụ thức ăn cho toàn đội. Đồ hộp cũng nhiều nhưng không ai ăn. Khu nhà khí tượng do Pháp xây trên đảo có những hầm chứa nước mưa dùng uống quanh năm.


Khoảng năm 1958, có lần một đoàn tàu Trung Quốc đến gần nhưng bị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn bắn dọa đuổi đi. Tàu cá của Nhật cũng có tới xin nước ngọt. Họ không biết tiếng Việt nhưng ra dấu xin lên đảo lấy nước rồi cúi đầu cảm tạ… Bao nhiêu kỷ niệm còn sống trong lòng những người đã từng ở Hoàng Sa. Ông Phạm Khôi, nguyên là lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa, hiện sống ở Đà Nẵng mở tủ lấy ra hai chiếc vỏ ốc hoa còn khắc ngày ông đặt chân lên Hoàng Sa: 23 tháng chạp năm 1969. Đó là hai chiếc vỏ ốc ông mang về và trở thành báu vật của đời ông!




Bài sưu tầm

Cảnh giác “quỹ đạo đúng đắn”


Năm 1964, nữ nhà báo Pháp phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh, có đặt một câu hỏi: “Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (Thành vệ tinh của Trung Quốc).
Như một kiểu quỹ đạo.
Chuyện này ai cũng biết Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Không bao giờ”.
47 năm sau, chào mừng tết Độc Lập của Việt Nam, đài CRI của Trung Quốc dẫn lời người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc cho biết: “Trung Quốc sẵn sàng nỗ lực cùng Việt Nam, tăng cường giao lưu hữu nghị, sâu sắc hợp tác thiết thực, gạt bỏ mọi quấy nhiễu, thúc đẩy quan hệ Trung-Việt mãi mãi phát triển lên phía trước theo quỹ đạo đúng đắn”.
Ngàn năm trước, các vương triều phong kiến Trung Hoa tột bậc ham muốn đưa Việt Nam vào đúng quỹ đạo chư hầu, ngàn năm sau họ lại dùng từ: “Theo quỹ đạo đúng đắn”.
Đọc diễn từ đó, một cảm giác rợn lạnh toát mồ hôi chạy khắp sống lưng. 47 năm trước, có sự lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời chẳng do dự: “Không bao giờ”. 47 năm sau, họ đưa ra “quỹ đạo đúng đắn”, chẳng thấy ai nói gì.
Và để chứng minh “quỹ đạo” đó, tàu Ấn Độ thăm Việt Nam ở cảng Nha Trang, đi Hải Phòng, ở vị trí cách bờ 45 hải lý, nghĩa là vẫn nằm trong vùng lãnh hải Việt Nam, nhưng Trung Quốc lớn tiếng qua radio nói tàu này đang đi vào vùng biển Trung Quốc. Và sau phát biểu đó đến nay đã 3 ngày, không thấy bộ ngoại giao lên tiếng phản bác lại lập luận của Trung Quốc, 45 hải lý là biển Trung Quốc? một sự ngang ngược mới không thể chấp nhận. Và vì sao cho đến giờ, người phát ngôn của BNG vẫn kín tiếng, phải chăng đang vào “quỹ đạo”?.
Và cũng để chứng minh “quỹ đạo” đó “đúng đắn”, Trung Quốc lại điều tàu ngư chính, mang số hiệu 306, có trọng tải 400 tấn đã rời cảng ở phía nam thành phố Quảng Châu để tới vùng quần đảo Hoàng Sa, máu thịt của Việt Nam, thế nhưng hiện bà Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn của BNG vẫn chưa lên tiếng phản ứng. Phải chăng, sự im lặng này là một phần của việc đi vào “quỹ đạo đúng đắn”?.
Nhớ rằng, Trung Quốc tuyên bố “gạt bỏ mọi quấy nhiễu”, nhưng họ lại đang đi quyấy nhiễu Hoàng Sa, mảnh đất thiêng bị cướp và lại còn tuyên bố “quỹ đạo đúng đắn”.
Dẫn theo blog Cu Làng Cat

Bài sưu tầm

Một đánh giá mới về Nhân Văn - Giai Phẩm


Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com





Nhân Văn - Giai Phẩm thường được xem là phong trào đòi tự do dân chủ mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn nhất trong giới trí thức sống dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bị dập tắt vào cuối thập niên 1950, phong trào này đến hôm nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu và nhiều nhân vật có vai trò lớn trong giai đoạn đó vẫn để lại cảm hứng và ảnh hưởng cho văn nghệ sĩ người Việt trong ngoài nước.
Tuy vậy, một nghiên cứu công bố gần đây của chuyên gia nổi tiếng về lịch sử Việt Nam, Peter Zinoman, cho rằng danh tiếng của Nhân Văn - Giai Phẩm (NVGP) như một lực lượng đối kháng mạnh mẽ đã bị "thổi phồng".
Tác giả, một người rất quen thuộc với giới nghiên cứu ở Việt Nam, nhận định thời gian qua đã có thêm nhiều nghiên cứu mới "thành công khi thể hiện một hình ảnh đáng tin về NVGP như một phong trào mạnh của sự bất đồng quan điểm chính trị chống lại đảng-nhà nước".
Nhưng ông cho rằng các học giả đã không phân tích sâu sắc nội dung các bài viết đã đăng của NVGP, mà chỉ có xu hướng tập trung vào những tuyên bố chống đối kịch tính nhất.
Lấy ví dụ, sử gia Peter Zinoman, đang là Phó Giáo sư khoa Lịch sử của ĐH Berkeley, Hoa Kỳ, đề cập bài viết Bài học Ba lan và Hungary của nhà thơ Lê Đạt, in ở Nhân văn số 5, ngay sau khi xảy ra các biến cố rung chuyển hai nước Đông Âu.
Theo đúng những gì người ta trông đợi từ một phong trào đối kháng, bài này bị chính quyền ở Hà Nội phê phán là "bào chữa cho bọn phản cách mạng".
Nhưng tiến sĩ Zinoman lưu ý người đọc rằng trong phần kết luận, Lê Đạt cho rằng phong trào đối lập ở hai nước Đông Âu bị "bọn đế quốc" kích động và lại còn tán thành với việc dùng bạo lực dập tắt sự nổi dậy ở Hungary.
Ví dụ này phải chăng cho thấy sự hạn chế trong nghị trình của NVGP. Ngoài ra, phong trào khi ấy không thể liên kết với công nhân, sinh viên và cộng đồng tôn giáo, và dường như người dân cũng không bày tỏ ủng hộ giới văn nghệ sĩ.
Bài nghiên cứu của tiến sĩ người Mỹ này muốn bác lại việc xem NVGP là phong trào "bất đồng chính kiến". Theo ông, khi so sánh với sự trỗi dậy của các phong trào cải cách trong thế giới cộng sản thập niên 1950, thì NVGP là "nỗ lực tương đối hạn chế nhằm 'cứu' chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam bằng cách chuyển hóa nó từ bên trong".
Thách thức mức nào?
Tiến sĩ Peter Zinoman nói "mặc dù NVGP nhắc đến nhiều sự lạm dụng độc đoán của giới chức bậc trung, nó hiếm khi thách thức ban lãnh đạo đảng hay sự chính danh của hệ thống Cộng sản".
"Thông thường NVGP tìm cách giảm nhẹ cường độ công kích bằng việc đi kèm các tuyên bố trung thành với chính thể và ý thức hệ cai trị."
Giọng điệu trung dung của NVGP "thật tương tự với dòng chảy chính trị Cộng sản cải cách hoặc xét lại tăng tốc trong thế giới Cộng sản sau cái chết của Stalin, lên đến đỉnh điểm đúng vào khi NVGP bắt đầu năm 1956".
Lập trường của các phong trào này, như Andras B. Hegedus đã nói về tình hình ở Hungary, là họ tin rằng "có thể cải thiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Marx có thể được tái sinh".
Tiến sĩ Peter Zinoman nhận thấy ở NVGP có sự trung thành chính trị với Đảng Cộng sản, khẳng định đi theo chủ nghĩa Marx, ngưỡng mộ Khrushchev, Lenin và tôn sùng nhà thơ Mayakovskii như biểu tượng chống sự sùng bái cá nhân.
Trong một khảo sát về bảy vấn đề lớn chi phối phong trào cải cách ở Hungary, Ba Lan, Đông Đức và Tiệp Khắc giữa thập niên 1950, Vladimir Kusin ghi nhận có sự gần gũi về quan điểm giữa các phong trào.
Bốn trong số bảy vấn đề này cũng xuất hiện nhiều trong các bài viết của NVGP: (1) dân chủ hóa đảng; (2) cải tổ hệ thống chính trị và pháp luật; (3) bảo vệ tự do trí thức; (4) nhân văn hóa chủ nghĩa Marx.
Có hai vấn đề không được nhóm quan tâm là giảm bớt kiểm soát của Liên Xô với các nước vệ tinh, và thực thi cải cách kinh tế.
Về vấn đề thứ bảy - thúc đẩy chung sống hòa bình với phương Tây - NVGP không tỏ ra có một lập trường mạnh mẽ hay thống nhất.
Sự quan tâm của NVGP đối với dân chủ trong đảng, cải cách hệ thống chính trị - pháp luật, và tự do trí thức đặt phong trào vào dòng chính của xu hướng cải tổ chủ nghĩa cộng sản trên thế giới cùng thời điểm.

Nhân Văn - Giai Phẩm vừa giống vừa khác các phong trào cải cách ở Đông Âu
Nhưng hai điểm khác của NVGP giúp giải thích vì sao phong trào không nhận được sự ủng hộ hay biết tới của dân chúng.
Thứ nhất là cải tổ kinh tế (kế hoạch hóa tập trung, tập thể hóa, giá lương tiền). Ngay cả các bài viết của NVGP về cải cách ruộng đất chỉ xem đây là vấn đề chính trị chứ không phải là một chính sách kinh tế thất bại.
Như chuyên gia Tường Vũ từng phân tích, chính các đơn thưa của người lao động liên quan lạm phát, điều kiện lao động...là chủ đề của phong trào lao động rộng lớn trong những năm đầu cai trị của Đảng Cộng sản ở miền Bắc.
Vấn đề thứ hai là NVGP hầu như không đề cập vấn đề tự chủ và bình đẳng trước Liên Xô, khác với giới đòi cải cách ở Đông Âu.
Dĩ nhiên, điều này có thể được giải thích vì khi ấy Liên Xô không có mặt nhiều ở miền Bắc, và Đảng Cộng sản, vừa chiến thắng quân Pháp, không bị công kích về tinh thần dân tộc.
Nhưng, theo tiến sĩ Peter Zinoman, việc thiếu vắng hai chủ đề này cũng đã làm giảm sức mạnh chính trị của phong trào khi so với ở Đông Âu.
Kết lại, tác giả xem NVGP là "sự biểu lộ tương đối nhẹ của một hiện tượng toàn cầu".
Theo ông, danh tiếng "bị thổi phồng" của NVGP một phần là nhờ sự kịch tính trong sự trỗi dậy và sụp đổ của phong trào. Những diễn giải sau này, nhấn mạnh sự táo bạo của NVGP, là phản ứng chống lại sự chỉ trích độc địa của báo chí nhà nước thời bấy giờ.
Truyền thống đối kháng nội bộ bên trong Việt Nam tương đối yếu ớt cũng giúp làm tăng sự quan trọng và sức mạnh của NVGP, phong trào chỉ trích đảng duy nhất trước 1986.
Tiến sĩ Peter Zinoman còn cho rằng một thế hệ văn nghệ sĩ, trí thức mới đối lập trong ngoài nước cũng đã phóng đại nội dung phê phán của NVGP nhằm thiết lập "mối dây phả hệ giữa nỗ lực của chính họ và một truyền thống phê phán Cộng sản trước đó".
Tiểu luận dài 40 trang của tác giả, đăng trên Journal of Cold War Studies số Mùa đông 2011, là nghiên cứu mới nhất bằng tiếng Anh về NVGP.
Sự diễn giải mà tác giả gọi là "xét lại" với NVGP hẳn sẽ nhận phản hồi khác nhau của giới trí thức người Việt trong ngoài nước, trong bối cảnh vấn đề trí thức và dân chủ đang được bàn đến nhiều thời gian gần đây.
Tiến sĩ Peter Zinoman nói nghiên cứu của ông không nhằm "phủ nhận sự dũng cảm của các lãnh đạo phong trào hay bị kịch của họ dưới bàn tay tàn nhẫn của đảng - nhà nước". Ông muốn bài viết tìm hiểu lại mục tiêu của NVGP và đánh giá điềm tĩnh hơn về tiềm năng cũng như hạn chế của phong trào trong vai trò lực lượng chính trị.


Theo BBC Việt ngữ ngày 2-9-2011, tại đường dẫn http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/09/110901_nvgp_zinoman.shtml